Văn khắc >> Bia Văn miếu Hà Nội
Bia số 10
10- VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA NHÂM TUẤT NIÊN HIỆU CẢNH THỐNG NĂM THỨ 5 (1502)

Cập nhật lúc 22h34, ngày 24/01/2009

VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA NHÂM TUẤT NIÊN HIỆU CẢNH THỐNG NĂM THỨ 5 (1502)

 



殿


 

Mở khoa thi Tiến sĩ là quy chế đã định sẵn để kén chọn kẻ sĩ, khắc đá đề danh cốt để rộng rãi khuyến khích nhân tài. Các triều trước đều lấy đó để làm sáng tỏ nhân văn, thánh triều cũng lấy đó để nâng cao hiệu quả trị đạo. Đại khái kinh điển giáo hóa lớn của triều đình hàm chứa trong đó, đâu phải chỉ để ghi sự việc cho đẹp mắt mà thôi đâu!

Mùa xuân năm Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502), Bộ Lễ theo lệ cũ, mở khoa thi Hội các Cử nhân trong nước, số dự thi đông đến 5000. Qua bốn trường lấy trúng cách được 61 người, đưa tên dâng lên. Hoàng thượng đích thân hỏi thi ở sân rồng. Sai Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Nam quân Phò mã đô uý Lâm Hoài bá Trụ quốc Lê Đạt Chiêu, Hộ bộ Thượng thư Vũ Hữu, Binh bộ Tả Thị lang Dương Trực Nguyên, Ngự sử đài Thiêm Đô Ngự sử Bùi Xương Trạch chia giữ các việc. Lễ bộ Thượng thư Tả xuân phường Tả dụ đức kiêm Đông các Đại học sĩ Đàm Văn Lễ, Lễ bộ Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thị độc Chưởng Hàn lâm viện sự Nguyễn Bảo, Lễ bộ Tả Thị lang kiêm Đông các Học sĩ Lê Ngạn Tá; Quốc tử giám Tế tửu Hà Công Trình, Tư nghiệp Hoàng Bồi, Thái thường Tự khanh Nghiêm Lâm dâng quyển lên đọc. Hoàng thượng đích thân xem xét, ban cho bọn Lê Ích Mộc 3 người đỗ Tiến sĩ cập đệ, bọn Nguyễn Cảnh Diễn 24 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Phạm Khiêm Ích 34 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân.

Tư thiên giám chọn ngày tốt, Hoàng thượng ngự điện Kính Thiên, sai truyền loa xướng tên người thi đỗ, trăm quan mặc triều phục chúc mừng. Mấy năm trước bảng vàng treo ngoài cửa Đông Hoa, năm nay sai Bộ Lễ rước bảng có trống nhạc dẫn trước, đem treo ngoài cửa nhà Thái học, cốt khiến cho sĩ tử nhìn thấy mà thêm phần khích lệ. Ân vinh ban theo thứ bậc, thảy đều theo lệ cũ. Quan Bộ Công theo lệ khắc đá đề danh để truyền tới lâu dài. Sai từ thần soạn bài ký. Thần là Đàm Văn Lễ kém cỏi, giữ trách nhiệm soạn thuật, không dám lấy cớ quê mùa chối từ.

Thần trộm nghĩ: đời Thành Chu bắt đầu có khoa tuyển Tiến sĩ1, đến đời Đường Tống rất thịnh hành, nhân tài nối nhau xuất hiện, nền chính trị mở mang đầy đủ, sách vở còn ghi chép rõ ràng có thể tra cứu được.

Kính nghĩ liệt thánh triều ta, dựng nhà học, chuộng văn Nho, đặt khoa thi lấy học trò, mở nền thịnh trị thái bình muôn thuở. Sở dĩ có thể sửa sang thế đạo, tô điểm hoàng đồ, tôn cho vua được như Nghiêu Thuấn, khiến cho dân được như dân thời Đường Ngu, há chẳng phải do khoa mục chọn hiền tài mà đạt được hay sao?

Kính nghĩ Hoàng đế bệ hạ, sự nghiệp nối tiếp hai vua, truyền thống kế thừa bốn thánh, chăm lo học đạo, trăn trở cầu hiền. Bao nhiêu điều quan yếu trong phép trị đạo của các đế vương thuở trước, cách thức cầu tìm hiền tài, phép thi cử chọn người đều được quán triệt, mở mang, trau dồi thêm đẹp. Quy phạm nghiêm ngặt, xử trí chặt chẽ, lựa chọn kỹ càng, thật đã chu đáo hết mức vậy. Nhờ thế danh sĩ tụ hội rất đông, người tài tìm đến, lựa chọn được nhân tài hơn hẳn mấy đời trước. Kẻ sĩ gặp thời cá nước, được hội gió mây. Người được dự vào hàng thị tòng, người vào ban gián nghị, hoặc sung chức ở các bộ các ti vẫn nên giữ tiết trung thành, trau dồi đức hạnh, nuôi ý chí, gắng sự nghiệp, bắt chước Cao, Quỳ, Chu, Thiệu2, sánh hàng Hàn, Lục, Âu, 3, tiếng để đời mình, công dành hậu thế, trên không phụ thịnh ý triều đình cất nhắc, dưới không phụ ý chí hoài bão thường ngày. Được như vậy thì tấm đá này khắc ra, càng lâu càng thêm sáng vậy. Nếu như sau trước khác nhau, ngoài là ngọc mà trong là đá, hoặc học tà như Công Tôn, hoặc biến tiết như Nguyên Chân, hoặc nham hiểm như Đinh Vị, hoặc gian tà như An Thạch, những điều người ta đọc thấy không giống như dư luận người ta đã nghe, việc làm trái với điều đã học, thì người đời sau xem bia sẽ chỉ vào tên mà chỉ trích chê cười, ngàn năm sau, tấm đá này đã bị tì vết thì làm sao có thể mài rửa được?

Quyền vua phép nước ngời ngời, thanh danh giáo hóa nghiêm nghị, các bậc quân tử có thể nào lại không tự trọng hay sao!

Thượng thư Bộ Lễ, Gia hạnh đại phu Tả xuân phường Tả dụ đức kiêm Đông các Đại học sĩ Khuông nghĩa doãn Đàm Văn Lễ vâng sắc soạn.

Bia dựng ngày 10 tháng 11 niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502).

Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:

LÊ ÍCH MỘC 黎 益 沐4 người xã Thanh Lãng huyện Thuỷ Đường phủ Kinh Môn.

LÊ SẠN 黎 棧5 người xã Vạn Phúc huyện Thanh Trì phủ Thường Tín. 35 tuổi.

NGUYỄN VĂN THÁI 阮 文 泰6 người xã Tiền Liệt huyện Vĩnh Lại.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 24 người:

NGUYỄN CẢNH DIỄN 阮 景 演7 người xã Yên Tử huyện Tân Minh phủ Nam Sách.

NGUYỄN ĐỨC KHÂM 阮 德 欽8 người xã Uông Hạ huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.

NGUYỄN NHƯ CÔN 阮 如 琨9 người xã Trại Sơn huyện Giáp Sơn.

TRẦN DỰC 陳 翼10 người xã Ngải Lăng huyện La Sơn.

LÊ VĂN HỌC 黎 文 學11 người xã Đông Tháp huyện Đông Thành.

HẠ NGỌC CHÚC 夏 玉 燭12 người xã Yên Duyệt huyện Chương Đức.

NGUYỄN NGẠN 阮 彥13 người xã Yên Khoái huyện Phú Xuyên.

NGUYỄN VĨNH KIÊN 阮 永 堅14 người xã Yên Ninh huyện Cẩm Giàng.

ĐẶNG TUYÊN 鄧 宣15 người xã Lạc Dục huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.

NGUYỄN BÁ TÙNG 阮 伯 松16 người xã Tạ Xá huyện Tứ Kỳ.

NGUYỄN ĐỐC 阮 篤17 người xã Thổ Giá huyện Nông Cống.

VŨ BÁ DUNG 武 伯 庸18 người xã Thanh Giản huyện Đường An.

VŨ CÁN 武 幹19 người xã Mộ Trạch huyện Đường An.

NGÔ VĂN HUY 吳 文 輝20 người xã Trâu Khê huyện Đường An.

TRƯƠNG ĐỨC QUANG 張 德 光21 người xã Ngọc Xuyết huyện Hoằng Hóa.

NGUYỄN CHƯỞNG 阮 掌22 người xã Thanh Thủy huyện Tiên Phúc.

HOÀNG SĨ DỊCH 黃  士 懌23 người xã Hoà Xá huyện Lương Tài.

NGUYỄN VĂN HIẾN 阮 文 獻24 người xã Vĩnh Thế huyện Siêu Loại.

VŨ BÁ THẮNG 武 伯 勝25 người xã Tiêu Sơn huyên Yên Phong.

MAI ĐỨC BÁ 梅 德 霸26 người xã Thạch Lỗi huyện Thạch Hà.

NGUYỄN TỰ 阮 敘27 người xã Vĩnh Mỗ huyện Sơn Vi.

ĐOÀN NHÂN THỤC 段 仁 淑28 người xã Nghĩa Đô huyện Từ Liêm.

BÙI DỤC TÀI 裴 育 才29 người xã [...] huyện Hải Lăng.

LÊ NHÂN TẾ 黎 仁 濟30 người xã Đại Nhuệ huyện Hoằng Hóa.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 34 người:

PHẠM KHIÊM BÍNH 范 謙 柄31 người xã Lãm Sơn huyện Quế Dương.

NGUYỄN VĂN KIỆT 阮 文 傑32 người xã Mỹ Xá huyện Ngự Thiên.

NGUYỄN DUY MINH 阮 維 明33 người xã Thượng Cốc huyện Gia Lộc.

NGUYỄN KIM 阮 金34 người xã Thạch Lựu huyện An Lão.

DOÃN MẬU KHÔI 尹 茂 魁35 người xã YênDuyên huyện Thượng Phúc.

NGUYỄN TỬ TRỌNG 阮 子 仲36 người xã An p huyện Hương Sơn.

CHỬ THIÊN KHẢI 褚 天 啟37 người xã Cối Giang huyện Đông Ngàn.

LÊ DỰC 黎 翼38 người xã Bối Khê huyện Thanh Oai.

ĐỖ VĂN HIỆU 杜 文 校39 người xã Hữu Quang huyện Yên Sơn.

HOÀNG TỬ NGHI 黃 子 儀40 người xã Công Luận huyện Văn Giang.

NGUYỄN VĂN HIẾN 阮 文 獻41 người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng.

ĐINH TRINH 丁 貞42 người xã Vị Khê huyện Thanh Lan.

ĐÀO NHƯ HỔ 陶 如 虎43 người xã Triều Đông huyện Thượng Phúc.

HOÀNG NHẠC 黃 岳44 người xã Hoàng Xá huyện Đông Thành.

VŨ NGHI HƯỚNG 武 宜 向45 người xã Đại Vi huyện Tiên Du.

BÙI TÂN 裴 新46 người xã Kim Bảng huyện Thiên Bản.

LÊ KIM CHƯƠNG 黎 金 璋47 người xã Thanh Mai huyện Yên Phong.

NGUYỄN THẾ MỸ 阮 世 美48 người xã Lang Khuê huyện Tiên Lữ.

NGUYỄN TRỌNG HƯNG 阮 仲 興49 người xã Đại Đồng huyện Siêu Loại.

BÙI DOÃN CHÍNH 裴 允 正50 người xã Thắng Trí huyện Bình Tuyền.

PHẠM TRÁNG 范 壯51 người xã Dũng Nhuệ huyện Giao Thuỷ.

TRẦN LƯ 陳 驢52 người xã Bình Vọng huyện Thượng Phúc.

PHAN ĐÌNH MỤC 潘 廷 睦53 người xã Tây Hồ huyện Quảng Đức.

NGUYỄN XUÂN LAN 阮 春 蘭54 người xã Thì Mại huyện Bảo Lộc.

TRẦN HUYÊN 陳 暄55 người xã Diên An huyện Kim Động.

LÊ HIẾU TRUNG 黎 孝 忠56 người xã Chi Nê huyện Chương Đức.

NGUYỄN ĐOAN 阮 端57 người xã Thụy Chương huyện Quảng Đức.

LÊ ĐÌNH TƯỞNG 黎 廷 獎58 người xã Cao Mật huyện Kim Bảng.

ĐÀO THÚC VIỆN 陶 淑 院59 người xã Song Khê huyện Yên Dũng.

NGUYỄN VĂN ĐỆ 阮 文 弟60 người xã Yên Nhân huyện Chương Đức.

VŨ BÁ HUYÊN 文 伯 諠61 người xã Tùng Du huyện Gia Phúc.

MẠC VĂN UY 莫 文 威62 người xã Mạc Xá huyện Thanh Lâm.

NGUYỄN TỬ KIẾN 阮 子 建63 người xã Trạch Lôi huyện Thạch Thất.

NGUYỄN MẬU 阮 茂64 người xã Du La huyện Thanh Hà.

Quang lượng đại phu Trung thư giám Điển thư Chính tự khanh Phạm Định vâng viết chữ (chân).

Thông chương đại phu Kim quang môn Đãi chiếu Chính khanh Nguyễn Toản vâng viết chữ triện.

Bia dựng ngày 15 tháng 9 niên hiệu Đại Chính năm thứ 7 (1536)65.

Chú thích:

1. Nguyên văn: “Thành Chu chi thời thủy hữu Tiến sĩ chi tuyển”, nhưng thực thì không đúng như vậy. Vì lịch sử khoa cử Trung Quốc đã ghi rõ từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc tuy có xét chọn người để cho học lên cấp cao hơn, nhưng phải đến đời Tùy Dạng đế (605-616) mới chính thức bắt đầu có khoa thi Tiến sĩ. (Xem Thương Diễn Lưu: Đại Thanh khoa cử pháp bị khảo, Bắc Kinh, 1958).

2. Cao, Quỳ, Chu, Thiệu: Cao là Cao Dao, Quỳ là Hậu Quỳ, hai vị danh thần đời Ngu Thuấn; Chu là Chu Công Đán, Thiệu là Thiệu Thích, hai vị hiền thần đời vua Võ Vương nhà Chu.

3. Hàn, Lục, Âu, Tô: tức là Hàn Dũ, Lục Chí, Âu Dương Tu và Tô Thức (Đông Pha). Bốn vị danh Nho của Trung Quốc.

4. Lê Ích Mộc (?-?) người xã Thanh Lãng huyện Thủy Đường (nay thuộc xã Quảng Thanh huyện Thủy Nguyên, Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Tả Thị lang.

5. Lê Sạn (1476-?) người xã Vạn Phúc huyện Thanh Đàm (nay là xã Vạn Phúc huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội). Ông giữ chức các chức quan, như Đề sát, Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Lại và từng được cử đi sứ nhà Minh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng tước Trung Huân bá. Có sách chép nhầm Lê Nga.

6. Nguyễn Văn Thái (1479-?) người xã Tiền Liệt huyện Vĩnh Lại (nay thuộc huyện Vĩnh Bảo Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Học sĩ, tước Đạo Xuyên bá và từng được cử làm Phó sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Khi Mạc Đăng Dung chiếm ngôi nhà Lê, ông ra làm quan cho nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước hầu. Ông từng được cử đi sứ phương Bắc hai lần, nhưng lần thứ hai bị giữ lại, rồi ông lấy vợ người Trung Quốc, sinh con là Ngạn Xán, theo họ mẹ là họ Trương. Trương Ngạn Xán sau này thi đỗ Tiến sĩ. Ông còn có tên là Nguyễn Trí Thái.

7. Nguyễn Cảnh Diễn (1447-?) người xã Yên Tử Thượng huyện Tân Minh (nay thuộc xã Khởi Nghĩa huyện Tiên Lãng Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lễ.

8. Nguyễn Đức Khâm (1470-?) người xã Uông Hạ huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Minh Tân huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.

9. Nguyễn Như Côn (1481-?) người xã Trại Sơn huyện Giáp Sơn (nay thuộc xã An Sơn huyện Thủy Nguyên Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Chính đoán sự.

10. Trần Dực (1465-?) người xã Ngải Lãng huyện La Giang (nay thuộc huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh). Ông giữ các chức quan, như Tả Thị lang Bộ Hộ, Đông các Hiệu thư. Ông giỏi thơ phú quốc âm (chữ Nôm), thường dự các cuộc xướng họa thơ với vua, nhiều lần được khen thưởng.

11. Lê Văn Học (1470-?) người xã Đông Tháp huyện Đông Thành (nay thuộc xã Diễn Tháp huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An). Ông làm quan Tự khanh. Có tài liệu ghi ông người xã Lỗi Tuyền. Bia Văn Miếu tỉnh Hưng Yên ghi ông người xã Mạt Lỗi huyện Đông Yên.

12. Hạ Ngọc Chúc (1479-?) người xã An Duyệt huyện Chương Đức (nay thuộc xã Ngọc Sơn, huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây). Ông làm quan đến Hàn lâm viện Hiệu lý.

13. Nguyễn Ngạn (?-?) người xã Yên Khoái huyện Phú Xuyên (nay thuộc huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Đô Ngự sử.

14. Nguyễn Vĩnh Kiên (1473-?) người xã Yên Ninh huyện Cẩm Giàng (nay thuộc xã Cao An huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.

15. Đặng Tuyên (?-?) người xã Lạc Dục huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã Hưng Đạo huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hiến sát sứ.

16. Nguyễn Bá Tùng (?-?) người xã Tạ Xá huyện Tứ Kỳ (nay thuộc huyện Vĩnh Bảo Tp. Hải Phòng). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

17. Nguyễn Đốc (?-?) người xã Thổ Giá huyện Nông Cống (nay thuộc xã Tế Thắng huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa). Sau theo nhà Mạc, làm quan Tả Thị lang Bộ Lại. Khi mất, ông được tặng Thượng thư Bộ Lễ.

18. Vũ Bá Dung (?-?) người xã Thanh Giản huyện Đường An (nay thuộc xã Hồng Khê huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến Hàn lâm.

19. Vũ Cán (1475-?) hiệu Tùng Hiên, người xã Mộ Trạch huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Lễ, Chưởng Hàn lâm viện sự, Nhập thị Kinh diên và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Ông là con Vũ Quỳnh.

20. Ngô Văn Huy (?-?) người xã Châu Khê huyện Đường An (nay thuộc xã Thúc Kháng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tự khanh.

21. Trương Đức Quang (?-?) người xã Ngọc Xuyết huyện Hoằng Hóa (nay thuộc huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Đề hình Giám sát Ngự sử và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Có sách ghi ông là Nguyễn Đức Quang.

22. Nguyễn Chưởng (1476-?) người xã Thanh Thủy huyện Tân Phúc (nay thuộc xã Đông Sơn huyện Sóc Sơn Tp. Hà Nội). Được vua phê đổi tên là Nguyễn Vĩnh Hòa. Ông làm quan Đô Ngự sử và từng được cử đi sứ.

23. Hoàng Sĩ Dịch (1450-?) người xã Lai Xá huyện Lang Tài (nay thuộc xã Phú Lương huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ. Ông là cha của Hoàng Sĩ Khải.

24. Nguyễn Văn Hiến (1476-?) người xã Vĩnh Thế huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Trí Quả huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lễ và được cử đi sứ.

25. Vũ Bá Thắng (?-?) người xã Tiên Sơn huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tương Giang huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Tham chính.

26. Mai Đức Bá (1477-?) người xã Thạch Lỗi huyện Thạch Hà (nay thuộc huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Hiến sát sứ.

27. Nguyễn Tự (1472-?) người xã Vĩnh Mộ huyện Sơn Vi (nay thuộc huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ). Ông làm quan Hàn lâm viện sự.

28. Đoàn Nhân Thục (?-?) người xã Nghĩa Đô huyện Từ Liêm (nay thuộc Nghĩa Đô huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông làm quan đến Hiến sát sứ.

29. Bùi Dục Tài (?-?) người xã Câu Nhi (theo Ô châu cận lục) huyện Hải Lăng (nay thuộc huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị). Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm Hiệu lý, Tham chính đạo Thanh Hoa, Tả Thị lang Bộ Lại, Tham tướng. Khi ông trở về kinh lý ở xứ Thuận Hoá bị gian đảng sát hại.

30. Lê Nhân Tế (1480-?) người xã Đại Nhuệ huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Hoằng Thắng huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Đông các Hiệu thư. Có sách ông là Lê Nhậm Tế.

31. Phạm Khiêm Bính (?-?) người xã Lãm Sơn huyện Quế Dương (nay thuộc xã Nam Sơn huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Hộ, Thượng thư Bộ Lễ kiêm Đô Ngự sử. Khi Mạc Đăng Dung lên nắm quyền, phải ra yết kiến, bị truất xuống làm Hữu Thị lang Bộ Hộ.

32. Nguyễn Văn Kiệt (?-?) người xã Mỹ Xá (có sách ghi là Nghĩa Xá) huyện Ngự Thiên (nay thuộc xã Trần Phú huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Thiêm Đô Ngự sử.

33. Nguyễn Duy Minh (?-?) người xã Thượng Cốc huyện Gia Lộc (nay thuộc xã Gia Khánh huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tham chính.

34. Nguyễn Kim (?-?) người xã Thạch Lựu huyện An Lão (nay thuộc xã An Thái huyện An Lão Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Hiến sát sứ. Sau khi mất, ông được tặng Hữu Thị lang.

35. Doãn Mậu Khôi (?-?) người xã Yên Duyên huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Tô Hiệu huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Thời Lê ông được cử đi sứ (năm 1507) nhà Minh (Trung Quốc). Sau, ông làm quan triều Mạc đến chức Thượng thư kiêm Chưởng Hàn lâm viện, tước Tường An hầu.

36. Nguyễn Tử Trọng (1485-?) người xã An Ấp huyện Hương Sơn (nay thuộc xã Sơn Thịnh huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Đô Ngự sử.

37. Chử Thiên Khải (?-?) người xã Cối Giang huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Mai Lâm huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Tham chính. Khi mất, ông được tặng Hữu Thị lang Bộ Hộ và tước Tường Sơn bá.

38. Lê Dực (?-?) người xã Bối Khê (có sách ghi là Đại Định) huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Tam Hưng huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư.

39. Đỗ Văn Hiệu (?-?) người xã Hữu Quang huyện Yên Sơn (nay thuộc huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Cấp sự trung. Đời Lê sơ và đời Mạc chưa có tên huyện Yên Sơn, huyện này là huyện Ninh Sơn. Đến đời Trang Tông Lê Duy Ninh, do kiêng huý mới đổi Ninh Sơn thành Yên Sơn. Bia này ghi xã Hữu Quang huyện Yên Sơn, cho thấy chữ Ninh đã bị đục sửa thành chữ Yên vào đời sau.

40 Hoàng Tử Nghi (?-?) người xã Công Luận huyện Văn Giang (nay thuộc xã Đồng Than huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

41. Nguyễn Văn Hiến (1468-?) người xã Yên Dũng huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Tiến Dũng huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang). Ông làm quan Hiến sát sứ.

42. Đinh Trinh (?-?) người xã Vị Khê huyện Thanh Lan (nay thuộc xã Thái Phúc huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Hộ, Thượng thư Bộ Lễ, tước Thanh Xuyên bá và được cử đi sứ (năm 1507) sang nhà Minh (Trung Quốc).

43. Đào Như Hổ (?-?) người xã Triều Đông huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Tân Ninh huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan đến Tham chính.

44. Hoàng Nhạc (1478-?) người xã Hoàng Xá huyện Đông Thành (nay thuộc xã Diễn Cát huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An). Ông giữ các chức quan, như Giám sát Ngự sử, Hữu Thị lang và từng cử đi sứ Chiêm Thành.

45. Vũ Nghi Hướng (1481-?) người xã Đại Vi huyện Tiên Du (nay thuộc xã Đại Đồng huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thừa chính sứ.

46. Bùi Tân (?-?) người xã Kim Bảng huyện Thiên Bản (nay thuộc xã Kim Thái huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định). Ông làm quan đến Hữu Thị lang Bộ Hình.

47. Lê Kim Chương (1481-?) người xã Thanh Mai huyện Yên Phong (nay thuộc xã Vạn Thắng huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thừa chính sứ. (Bia ghi tên huyện là Yên Phong, có lẽ khi khắc lại bia hoặc đục sửa bị nhầm, đúng tên huyện của xã này là Tân Phong, sau đổi là Tiên Phong, nay thuộc huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây).

48. Nguyễn Thế Mỹ (?-?) người xã Lang Khuê (có tài liệu ghi là Lang Trụ) huyện Tiên Lữ (nay thuộc huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thừa chính sứ.

49. Đào Trọng Hưng (?-?) người xã Đại Đồng huyện Siêu Loại (nay là xã Đại Đồng huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

50. Bùi Doãn Chính (1470-?) người xã Thắng Trí huyện Bình Tuyền (nay thuộc Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thừa chính sứ.

51. Phạm Tráng (?-?) người xã Dũng Nhuệ huyện Giao Thủy (nay thuộc xã Xuân Hồng huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định). Ông làm quan đến Hữu Thị lang Bộ Hộ.

52. Trần Lư (?-?) người xã Bình Vọng huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Bạch Đằng huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Hiến sát sứ.

53. Phan Đình Mục (1474-?) người phường Tây Hồ huyện Quảng Đức (nay thuộc phường Trúc Bạch quận Ba Đình Tp. Hà Nội). Ông làm quan đến Hữu Thị lang.

54. Nguyễn Xuân Lan (1470-?) người xã Thời Mại huyện Bảo Lộc (nay thuộc huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

55. Trần Huyên (?-?) người xã Diên An (có tài liệu ghi là An Cảo) huyện Kim Động (nay thuộc xã Ngọc Thanh huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đô Ngự sử.

56. Lê Hiếu Trung (?-1522) người xã Chi Nê huyện Chương Đức (nay thuộc xã Trung Hòa huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như Giám sát Ngự sử, Tư nghiệp Quốc tử giám và được cử đi sứ (năm 1507) tạ ơn sách phong của nhà Minh (Trung Quốc). Khi xảy ra vụ phản biến, Trịnh Tuy bắt vua Quang Thiệu đưa về Thanh Hóa. Ông bất khuất tự sát.

57. Nguyễn Đoan (1473-?) người phường Thụy Chương huyện Quảng Đức (nay thuộc phường Thụỵ Khê quận Ba Đình Tp.Hà Nội). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ. Có tài liệu ghi ông là Lâm Đoan .

58. Lê Đình Tưởng (1474-?) người xã Cao Mật huyện Kim Bảng (nay thuộc xã Lê Hồ huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam). Ông làm quanPhó Đô Ngự sử.

59. Đào Thúc Viện (1472-?) người xã Song Khê huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Song Khê huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang). Ông làm quan đến Hàn lâm Ký lục Liên sự.

60. Nguyễn Văn Đệ (1472-?) người xã Yên Nhân huyện Chương Đức (nay thuộc xã Hòa Chính huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây). Ông làm quan đến Thượng thư Bộ Lễ.

61. Vũ Bá Huyên (?-?) người xã Tùng Du huyện Gia Phúc (nay thuộc huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

62. Mạc Văn Uy (?-?) người xã Mặc Xá huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Minh Tân huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hiến sát sứ. Có tài liệu ghi ông là Mạc Văn Thành.

63. Nguyễn Tử Kiến (1477-?) người xã Trạch Lôi huyện Thạch Thất (nay thuộc xã Trạch Mỹ Lộc huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư.

64. Nguyễn Mậu (?-?) người xã Du La huyện Thanh Hà (nay thuộc xã Cẩm Chế huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Thời Lê, ông giữ chức Ngự sử đài Đô Ngự sử. Sau làm quan triều Mạc, thăng đến chức Thượng thư, Văn minh điện Đại học sĩ, tước Lễ Quận công và từng hai lần đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).

65. Bia này có 2 dòng ghi thời gian: ở trên đã ghi bia dựng ngày 10 tháng 11 niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502), nhưng có thể năm ấy chỉ mới viết bài ký mà chưa thực sự khắc chữ và khắc bia. Mãi đến đầu triều Mạc mới đem bài ký đã viết trước ra khắc chữ và khắc bia như đã ghi ở dòng cuối bia. Như vậy, những chú thích về các tên huyện bị sai, chứng tỏ bia này đã khắc lại hoặc đục sửa địa danh vào đời sau.

In