Văn khắc >> Bia Văn miếu Huế
Bia số 22
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ ÂN KHOA KỶ MÃO NIÊN HIỆU TỰ ĐỨC NĂM THỨ 32 (1879)

Cập nhật lúc 11h06, ngày 29/01/2009

VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ ÂN KHOA KỶ MÃO NIÊN HIỆU TỰ ĐỨC NĂM THỨ 32 (1879)

 

 

 

Ban đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân1 người

ĐỖ HUY LIỆU杜輝1, Cử nhân, Hàn lâm viện Điển tịch, sinh năm Giáp Thìn, thi đỗ năm 36 tuổi, người xã La Ngạn tổng Vi Nhuế huyện Đại An phủ Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định.

Ban đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân5 người

[PHAN TRỌNG MƯU潘仲謀2, Cử nhân, sinh năm Tân Hợi, thi đỗ năm 29 tuổi, người xã Đông Thái huyện La Sơn tỉnh Hà Tĩnh].

VŨ TUẤN武峻3, Giám sinh Quốc tử giám, Tú tài, hàm Bát phẩm ở ty Phiên tỉnh Quảng Ngãi, sinh năm t Dậu, thi đỗ năm 55 tuổi, người xã Hữu Can Lộc tổng Nội Ngoại huyện Can Lộc phủ Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh.

NGUYỄN DỰ阮豫4, Cử nhân, sinh năm Giáp Thìn, thi đỗ năm 36 tuổi, người xã Đông Ngạc tổng Minh Tảo huyện Từ Liêm phủ Hoài Đức tỉnh Hà Nội.

PHAN HUY NHUẬN潘輝潤5, Cử nhân, sinh năm Giáp Thìn, thi đỗ năm 36 tuổi, người thôn Đông Thái xã Yên Đồng tổng Việt Yên huyện La Sơn phủ Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh.

TRẦN ĐÌNH PHONG陳廷楓6, Cử nhân, sinh năm Đinh Mùi, thi đỗ năm 33 tuổi, người thôn Yên Mã xã Thanh Khê tổng Thái Trạch huyện Yên Thành phủ Diễn Châu tỉnh Nghệ An.

Chú thích:

*Bia này khắc 3 khoa.

1. Đỗ Huy Liệu (1844-1891) hiệu là Tân Xuyên và tự là Tĩnh Ông , người xã La Ngạn tổng Vi Nhuế huyện Đại An phủ Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Yên Đồng huyện Ý Yên tỉnh Nam Định). Giải nguyên năm Đinh Mão (1867). Trước khi đi thi, ông đã làm Huấn đạo huyện Yên Mô hàm Hàn lâm viện Điển tịch; sau được bổ các chức quan, như Tri phủ Đoan Hùng, Biện lý Bộ Hộ, Tham biện ở Nội các, hàm Hồng lô tự Thiếu khanh. Nhưng sau bị thôi chức và về quê.

2. Phan Trọng Mưu (1851-?) người xã Đông Thái huyện La Sơn tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc xã Đức Châu huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh). Cử nhân năm Bính Tý (1876). Ông từng làm Đốc học Quảng Ngãi, sau ông tham gia cuộc khởi nghĩa Cần vương chống Pháp của Phan Đình Phùng, nên bị đục tên trên bia Tiến sĩ.

3. Vũ Tuấn (1825-?) người xã Hữu Can Lộc tổng Nội Ngoại huyện Can Lộc phủ Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc xã Thiên Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Tú tài được chọn vào học trường Quốc tử giám. Ông từng làm quan Tri phủ Thuận Thành.

4. Nguyễn Dự (1844-?) người xã Đông Ngạc tổng Minh Tảo huyện Từ Liêm phủ Hoài Đức tỉnh Hà Nội (nay thuộc xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Cử nhân năm Mậu Dần (1878). Ông từng làm quan Tri phủ, hàm Hàn lâm viện Thị độc.

5. Phan Huy Nhuận (1844-?) người thôn Đông Thái xã Yên Đồng tổng Việt Yên huyện La Sơn phủ Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh (nay thuộc xã Đức Châu huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh). Cử nhân năm Mậu Dần (1878). Ông từng làm Thị lang Bộ Công.

6. Trần Đình Phong (1847-?) người thôn Yên Mã xã Thanh Khê tổng Thái Trạch huyện Yên Thành phủ Diễn Châu tỉnh Nghệ An (nay thuộc huyện Yên Thành tỉnh Nghệ An). Cử nhân năm Bính Tý (1867). Ông từng làm quan Tri huyện Thọ Xuân, sau thăng Đốc học Quảng Ngãi.



VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA CANH THÌN NIÊN HIỆU TỰ ĐỨC NĂM THỨ 33 (1880)

 

 

Ban đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân1 người

NGUYỄN ĐÌNH DƯƠNG阮廷揚1, Cử nhân, Hậu bổ tỉnh Bắc Ninh, sinh năm Giáp Thìn, thi đỗ năm 37 tuổi, người thôn Thư Trai xã Lạc Nghiệp tổng Lạc Trị huyện Thạch Thất phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây.

Ban đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân4 người

ĐỖ VĂN ÁI杜文璦2, Cử nhân, Hàn lâm viện Điển tịch, sinh năm Giáp Dần, thi đỗ năm 27 tuổi, người xã Đại Gia tổng Thụy Phúc huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín tỉnh Hà Nội.

KHIẾU NĂNG TĨNH叫能靜3, Cử nhân, sinh năm t Mùi, thi đỗ năm 46 tuổi, người xã Chân Mỹ tổng Tử Vinh huyện Đại An phủ Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định.

NGUYỄN VĂN TRUNG阮文中4, Cử nhân, học Quốc tử giám, sinh năm Tân Hợi, thi đỗ năm 30 tuổi, người xã An Nông tổng An Nông huyện Phú Lộc phủ Thừa Thiên.

HOÀNG VĂN HÒE黃文槐5, Cử nhân, sinh năm Mậu Thân, thi đỗ năm 33 tuổi, người xã Phù Lưu tổng Phù Lưu huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.

Chú thích:

1. Nguyễn Đình Dương (1844-1886) người thôn Thư Trai xã Lạc Nghiệp tổng Lạc Trị huyện Thạch Thất phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây (nay thuộc huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây). Cử nhân năm Canh Ngọ (1870), làm Hậu bổ tỉnh Bắc Ninh. Sau khi thi đỗ Tiến sĩ, ông làm Án sát Hưng Hoá, Biện lý Bộ Hộ, Bố chánh Quảng Bình. Khi nghĩa quân Cần vương tấn công Quảng Bình, ông bị chết tại trận.

2. Đỗ Văn Ái (1854-?) người xã Đại Gia tổng Thụy Phúc huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín tỉnh Hà Nội (nay thuộc xã Thụy Phú huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây). Cử nhân năm Bính Tý (1876). Ông từng làm quan Tuần phủ, rồi Bố chánh Hà Nam.

3. Khiếu Năng Tĩnh (1835-?) người xã Chân Mỹ tổng Tử Vinh huyện Đại An phủ Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Yên Cương huyện Ý Yên tỉnh Nam Định). Cử nhân năm Mậu Dần (1878). Ông làm quan Đốc học Hà Nội, Tế tửu Quốc tử giám.

4. Nguyễn Văn Trung (1851-?) người xã An Nông tổng An Nông huyện Phú Lộc phủ Thừa Thiên (nay thuộc huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên-Huế). Cử nhân năm Mậu Dần (1878). Ông từng làm quan Bố chánh Bình Định.

5. Hoàng Văn Hòe (1848-1885) hiệu là Cổ Lâmvà biệt hiệu là Hạc Nhân , tự là Vương Thực , người xã Phù Lưu tổng Phù Lưu huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Cử nhân năm Canh Ngọ (1870). Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm viện Biên tu, Tri phủ Kiến Xương, Kinh diên Khởi cư trú. Ông bị chết trong trận đánh nhau với quân Pháp tại Huế. Sau khi mất, ông được tặng Hàn lâm viện Trước tác.


 

 

VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ ÂN KHOA GIÁP THÂN NIÊN HIỆU KIẾN PHÚC NĂM THỨ 1 (1884)

 

 

Ban đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân1 người

NGUYỄN ĐỨC QUÝ阮德貴1, Cử nhân, sinh năm Kỷ Dậu, thi đỗ năm 36 tuổi, người thôn Hoành Sơn xã Nam Kim Thượng tổng Nam Kim huyện Thanh Chương phủ Anh Sơn tỉnh Nghệ An.

Ban đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân2 người

DƯƠNG THÚC HẠP楊叔珨2, Cử nhân, Hậu bổ tỉnh Quảng Bình, sinh năm t Mùi, thi đỗ năm 50 tuổi, người thôn Quỳnh Đôi xã Phú Hậu tổng Phú Hậu huyện Quỳnh Lưu phủ Diễn Châu tỉnh Nghệ An.

NGUYỄN THÍCH阮適3, Cử nhân, m sinh Quốc tử giám, sinh năm Canh Tuất, thi đỗ năm 35 tuổi, người xã Chiên Đàn tổng Chiên Đàn Trung huyện Hà Đông phủ Thăng Bình tỉnh Quảng Nam.

Chú thích:

1. Nguyễn Đức Quý (1849-1887) người thôn Hoành Sơn xã Nam Kim Thượng tổng Nam Kim huyện Thanh Chương phủ Anh Sơn tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Khánh Sơn huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An). Cử nhân năm Bính Tý (1876). Ông làm quan Hàn lâm viện Biên tu. Sau theo phong trào Cần vương, được vua Hàm Nghi phong Tán tương quân vụ, nhưng do kẻ xấu hại và ông bị bắn chết trong đợt đi lấy lương thực.

2. Dương Thúc Hạp (1835-?) người thôn Quỳnh Đôi xã Phú Hậu tổng Phú Hậu huyện Quỳnh Lưu phủ Diễn Châu tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An). Cử nhân năm Kỷ Mão (1879). Ông từng làm Hậu bổ ở Quảng Bình, sau thăng Đốc học Nghệ An.

3. Nguyễn Thích (1850-1885) người xã Chiên Đàn tổng Chiên Đàn Trung huyện Hà Đông phủ Thăng Bình tỉnh Quảng Nam (nay thuộc huyện Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam). Cử nhân năm Nhâm Ngọ (1879). Ông từng làm Biên tu Cơ mật viện, khi quân Pháp đánh chiếm Kinh đô Huế (1885), ông bị sát hại. Sau khi mất, ông được tặng Hàn lâm viện Tu soạn.

In