Văn khắc >> Bia Văn miếu Bắc Ninh
Bia số 4
VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ TỪ KHOA MẬU THÌN (1508) ĐẾN KHOA BÍNH TUẤT (1526)

Cập nhật lúc 07h22, ngày 02/04/2009

VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ TỪ KHOA MẬU THÌN (1508) ĐẾN KHOA BÍNH TUẤT (1526)



使史。

使使使使書。

使使使使爵。

書。

使使書。

使使卿。

使書。

 

Niên hiệu Đoan Khánh thời Lê khoa Mậu Thìn

Đệ nhất giáp Trạng nguyên, NGUYỄN GIẢN THANH 阮簡清1 người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn, Đông các Đại học sĩ, làm quan đến Thượng thư, tặng tước hầu.

Bảng nhãn, HỨA TAM TỈNH 許三省2 người xã Như Nguyệt huyện Yên Phong, đi sứ, làm quan đến chức Thượng thư, Thiếu bảo, Đôn Giáo bá.

Thám hoa, NGUYỄN HỮU NGHIÊM 阮有嚴3 người xã Phúc Khê huyện Đông Ngàn, làm quan đến Thị thư, cùng với Đàm Thiếu Bảo nhận mật chiếu Cần vương, tử tiết. Sau, đều được phong Tiết nghĩa Đại vương.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ:

NGÔ HẢI 吳海4 người xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong.

NGUYỄN LÝ QUANG 阮履光5 người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh.

LƯƠNG BÁ NHẠC 梁佰樂6 người xã Tân Trừ huyện Yên Phong, làm Đình Úy, tước hầu.

NGUYỄN TỬ KÝ 阮子驥7 người xã Nhị Trai huyện Thiện Tài.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

NGUYỄN ĐÌNH KHÔI 8 người xã Đại Đình huyện Đông Ngàn.

NGUYỄN TUYỂN 9 người xã Tân Trừ huyện Yên Phong.

NGUYỄN CÔN 10 người xã Nội Duệ huyện Tiên Du, làm Thị lang Bộ Binh.

NGUYỄN KỲ PHÙNG 11 người xã Phù Chẩn huyện Đông Ngàn, làm quan đến chức Thượng thư.

THÂN DUY NHẠC 12 người xã Đại Liễn huyện Vũ Ninh.

NGUYỄN TRỪNG 13 người xã Trà Lâm huyện Siêu Loại, làm quan đến chức Tham chính.

BÙI ĐỨC LƯƠNG 14 người xã Nội Duệ huyện Tiên Du.

LÝ KHẮC NẠP 15 người xã Cẩm Chương huyện Đông Ngàn, làmPhó Đô Ngự sử.

Niên hiệu Hồng Thuận thời Lê khoa Tân Mùi

Đệ nhị giáp Tiến sĩ:

NGUYỄN HY TÁI 16 người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn, làm quan Hiến sát.

MAI BANG 17 người xã Đào Tai huyện Quế Dương, làm Hiệu lý, chết khi làm việc.

NGUYỄN DỰC 阮煜18 người xã Nội Duệ huyện Tiên Du, làm quan đến chức Hiến sứ.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

DƯƠNG KHẢI 楊楷19 người huyện Vũ Ninh, làm quan đến Thừa sứ.

NGUYỄN QUANG 阮珖20 người xã Lũng Sơn huyện Tiên Du, làm Đông các, Thượng thư.

NGỌ CƯƠNG TRUNG 午剛中21 người xã Xuân Lôi huyện Yên Phong, làm quan đến Hiến sứ.

NGUYỄN HỮU QUAN 阮有官22 người xã Văn Xá huyện Thiện Tài, làm Tự khanh.

NGUYỄN VÔ ĐỊCH 阮無敵23 người xã Ngô Cương huyện Gia Định, làm quan đến chức Hiến sát.

NGUYỄN BẠT TỤY 阮拔萃24 người xã Phá Lãng huyện Thiện Tài. Khoa trước thi không đỗ cập đệ, từ chối, sau thi đỗ. Hai lần đi sứ, làm quan đến Thượng thư, Thái bảo, tuớc Lương Quận công.

NGÔ ĐĨNH TRỰC 吾挺直25 người xã Đình Bảng huyện Đông Ngàn, làm Hiệu thư, chết khi đang làm việc.

ĐÀO TRUNG HÒA 陶中和26 người xã Lai Xá huyện Thiện Tài, làm Tổng binh, được phong phúc thần.

NGUYỄN THU 阮秋27 người xã Lai Xá huyện Thiện Tài, làm Thượng thư.

Niên hiệu Hồng Thuận thời Lê khoa Giáp Tuất

Đệ nhất giáp Bảng nhãn:

NGUYỄN CHIÊU HUẤN 阮昭訓28 người xã Yên Khang huyện Yên Phong, đi sứ, làm Thượng thư.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ:

NGUYỄN TỰ CƯỜNG 阮自彊29 người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn, làm Hiến sát sứ. Cùng Đàm Thiếu Bảo từ chức, tử tiết. Sau, truy phong Tiết nghĩa Đại vương.

PHẠM CHÍNH NGHỊ 笵正毅30 người xã Hoa Kiều huyện Thiện Tài, làm quan đến Thượng thư.

NGÔ TÒNG CỦ 吾從矩31 người xã Hà Vỹ huyện Đông Ngàn, làm Thị lang Bộ Lễ.

NGUYỄN TRỌNG HIỆU 阮仲效32 người xã Đại Đồng huyện Siêu Loại, làm quan đến chức Thượng thư, tước bá.

CHỬ SƯ ĐỔNG 褚師董33 người xã Hội Phụ huyện Đông Ngàn, làm Thượng thư, về trí sĩ.

HÀ CẢNH ĐẠO 何景道34 người xã Đạo Tú huyện Siêu Loại, làm quan đến chức Thượng thư, phong tước bá.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

BÙI CÔNG PHỤ 裴公輔35 người xã Đồng Lạc huyện Kim Hoa, làm Thượng thư Bộ Lại.

VŨ TUÂN 武恂36 người xã Vĩ Vũ huyện Vũ Ninh, làm quan đến chức Thượng thư, tước hầu.

PHẠM ĐIỂN KÍNH 笵典敬37 người xã Đào Xá huyện Thiện Tài, làm quan Thượng thư, đi sứ, tước hầu.

VŨ HỮU NGHIÊM 武有嚴38 người xã Cửu Cao huyện Gia Lâm.

ĐOÀN SƯ ĐỨC 段師德39 người xã Văn Xá huyện Thiện Tài, làm quan đến Thượng thư, đi sứ, tước Văn Lâm hầu, về trí sĩ.

PHẠM KÍNH TRUNG 笵敬忠40 người xã Lai Xá huyện Thiện Tài, làm Đại lý khanh, tước hầu.

Niên hiệu Quang Thiệu thời Lê khoa Mậu Dần

Đệ nhất giáp Trạng nguyên:

NGÔ MIỄN THIỆU 吾勉紹41 người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn, làm quan đến chức Thượng thư, Thượng trụ quốc, tước Quận công.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ:

NGHIÊM VĂN HẬU 嚴文厚42 người xã Hà Lỗ huyện Đông Ngàn, làm Tham chính.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

NGUYỄN CƯ NHÂN 阮居仁43 người xã Ông Lâu huyện Thiện Tài, làm quan đến chức Thượng thư.

NGUYỄN CỦNG 阮鞏44 người xã Hoàng Đôi huyện Tế Giang, làm quan đến Thị lang.

VƯƠNG HOÀNH 王浤45 người xã Ngô Đạo huyện Tiên Phúc, làm quan đến Thị lang.

NGUYỄN HÒA TRUNG 阮和衷46 người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn, làm quan Thượng thư.

NGỌ DOÃN TRÙ 午尹儔47 người xã Ngọ Xá huyện Yên Việt, làm quan đến chức Tân sự.

NGUYỄN TẢO 阮藻48 người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn, làm quan trải Thượng thư sáu bộ.

Niên hiệu Quang Thiệu thời Lê khoa Canh Thìn

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

ĐỖ VĂN QUÝNH 杜文駉49 người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng, làm quan đến Thừa sứ.

NGUYỄN CÔNG NGHỊ 50  người xã Đại Đồng, huyện Siêu Loại, làm quan đến Thượng thư, đi sứ, tước Bá.

NguyÔnH÷u Du 51 người xã Nội Duệ huyện Tiên Du, làm quan đến chức Thượng thư.

Niên hiệu Thống Nguyên thời Lê khoa Quý Mùi

Đệ nhất giáp, HOÀNG VĂN TÁN 黃文贊 52người xã Xuân Lôi huyện Vũ Ninh, làm quan đến chức Thị lang.

Bảng nhãn, NGUYỄN THUYÊN 53 người xã Đào Tai huyện Quế Dương, làm quan đến chức Thừa chính, đi sứ, tặng Thượng thư, tước Lương Ngạn bá.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ:

NGUYỄN ĐÌNH CHƯƠNG 阮廷章54 người Trung Trinh huyện Thiện Tài, phong phúc thần.

NGUYỄN KHẮC TRUNG 55 người xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn, làm quan đến Hiến sứ.

NGUYỄN KHẮC CẦN 阮克勤56 người xã Đặng Xá huyện Thiện Tài, làm quan đến chức Thừa chính.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

NGUYỄN HANH 阮亨57người xã Hoa Thiều huyện Đông Ngàn, làm quan đến Đề hình.

BÙI KHẮC THẦM裴克忱58 người xã Lai Xá huyện Thiện Tài, làm quan đến Tự khanh.

Niên hiệu Thống Nguyên thời Lê khoa Bính Tuất

Đệ nhất giáp Bảng nhãn, NGUYỄN VĂN HIẾN 阮文獻59 người xã Đặng Xá huyện Thiện Tài, đi sứ, làm quan Tham chính.

Thám hoa, LƯU DOÃN TRUNG劉允忠60 người xã Vương Xá huyện Siêu Loại, làm quan đến Thị lang.

Đệ nhị giáp Tiến sĩ, NGUYỄN BỈNH KHUÊ阮秉圭61 người xã Vĩnh Thế huyện Siêu Loại, làm Hàn lâm Hiệu lý.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:

PHẠM ĐÌNH QUANG 笵廷光62 người xã Cổ Lãm huyện Thiện Tài, làm quan đến Hiến sát.

NGUYỄN XƯỞNG 63 người xã Ngô Cương huyện Gia Định, làm quan Thị lang, sau tuẫn tiết.

NGUYỄN TƯ TRỰC 阮司直64 người xã Đoan Bái huyện Yên Việt, làm Tự khanh, sau tuẫn tiết.

PHẠM VĨNH TRUYỀN 笵永傳65 người xã Hoa Kiều huyện Thiện Tài, làm quan đến Thượng thư.

 

Chú thích:

1. Nguyễn Giản Thanh (1483-1514) người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Hương Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4. (1508) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Hàn lâm viện Thị thư kiêm Đông các Đại học sĩ. Sau đó, ông lại ra làm quan với nhà Mạc và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc) để cầu phong cho Mạc Đăng Dung. Khi trở về, ông được thăng Thượng thư Bộ Lễ kiêm Hàn lâm viện Thị độc, Chưởng viện sự, tước Trung Phụ bá. Khi mất được tặng tước hầu. Ông là con của Nguyễn Giản Liêm.

2. Hứa Tam Tỉnh (1481-?) người xã Như Nguyệt huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tam Giang huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4. (1508) đời vua Lê Uy Mục, từng được cử đi sứ (năm 1516) sang nhà Minh (Trung Quốc). Sau, ông ra làm quan với nhà Mạc, lại được cử đi sứ sang nhà Minh. Khi trở về, ông được thăng Thượng thư Bộ Lại, hàm Thiếu bảo, tước Đôn Giáo bá, về trí sĩ.

3. Nguyễn Hữu Nghiêm (1491-1525) người xã Phúc Khê huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Phù Khê huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4. (1508) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lễ, Chưởng Hàn lâm viện sự. Năm 1522. khi Lê Chiêu Tông chạy ra ngoài, ông giữ chức Phó Đô Ngự sử, nhận mật chiếu cùng Đàm Thận Huy về Bắc Giang khởi binh đại phá quân Mạc ở bờ sông An Thường. Sau, vì thế cô bị thua trận, ông cùng con trai đi trốn và bị bắt đóng cũi đưa về Thăng Long rồi bị giết một cách thảm khốc. Nhà Lê Trung hưng, ông được phong là Tiết nghĩa đại vương và cho dân làng được lập đền thờ.

4. Ngô Hải (?-?) người xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tam Giang huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4. (1508) đời vua Lê Uy Mục. Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.

5. Nguyễn Lý Quang (?-?) người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4. (1508) đời vua Lê Uy Mục. Ông bị giết cùng với Ngô Hoãn trong loạn Trần Tuân.

6. Lương Bá Nhạc (?-?) người xã Tiên Trừ huyện Yên Phong (nay thuộc xã Trung Nghĩa huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4. (1508) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Đình úy, tước hầu.

7. Nguyễn Tử Ký (1463-?) người xã Nhị Trai huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Minh Tân huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4. (1508) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Phó Đô Ngự sử.

8. Nguyễn Đình Khôi (?-?) người xã Đại Đình huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4. (1508) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Thiêm Đô Ngự sử.

9. Nguyễn Tuyển (?-?) người xã Tân Trừ huyện Yên Phong (nay thuộc xã Trung Nghĩa huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4. (1508) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Đình úy sứ, tước hầu.

10. Nguyễn Côn (1473-?) người xã Nội Duệ huyện Tiên Du (nay thuộc xã Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4. (1508) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Hữu Thị lang Bộ Binh. Có tài liệu ghi ông làm quan đến chức Tự khanh.

11. Nguyễn Kỳ Phùng (?-?) người xã Phù Chẩn huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Phù Chẩn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4. (1508) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Hiến sứ. Có tài liệu ghi là Nguyễn Thời Phùng.

12. Thân Duy Nhạc (?-1511) người xã Đại Liễn huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Việt Thống huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4. (1508) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Cẩm y vệ Đoán sự, Trực Kim quang điện. Khi Lê Uy Mục bị diệt, ông theo Ngô Văn Tổng trở về địa phương khởi binh chống lại Lê Tương Dực. Sau ông bị quân của Trịnh Bá Quát bắt và giết.

13. Nguyễn Trừng (1477-?) người xã Đại Bối huyện Sơn Minh, trú quán xã Trà Lâm huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Trí Quả huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4. (1508) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Tham chính.

14. Bùi Đức Lương (?-?) người xã Nội Duệ huyện Tiên Du (nay thuộc xã Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4. (1508) đời vua Lê Uy Mục. Ông làm quan đến chức Đoán sự.

15. Lý Khắc Nạp (?-?) người xã Cẩm Chương huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đồng Nguyên huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh năm thứ 4. (1508) đời vua Lê Uy Mục. Trước khi đi thi ông từng làm Huấn đạo, sau làm quan đến chức Phó Đô Ngự sử, có tài liệu ghi ông làm quan đến chức Đông các Hiệu thư.

16. Nguyễn Hy Tái: Xem chú thích 8, Bia số 11.

17. Mai Bang: Xem chú thích 11, Bia số 11.

18. Nguyễn Dực: Xem chú thích 15, Bia số 11.

19. Dương Khải: Xem chú thích 22, Bia số 11.

20. Nguyễn Quang: Xem chú thích 26, Bia số 11.

21. Ngọ Cương Trung: Xem chú thích 28, Bia số 11.

22. Nguyễn Hữu Quan: Xem chú thích 30, Bia số 11.

23. Nguyễn Vô Địch: Xem chú thích 32, Bia số 11.

24. Nguyễn Bạt Tụy: Xem chú thích 33, Bia số 11.

25. Ngô Đĩnh Trực: Xem chú thích 34, Bia số 11.

26. Đào Trung Hòa: Xem chú thích 38, Bia số 11.

27. Nguyễn Thu: Xem chú thích 44, Bia số 11.

28. Nguyễn Chiêu Huấn: Xem chú thích 3, Bia số 12.

29. Nguyễn Tự Cường: Xem chú thích 6, Bia số 12.

30. Phạm Chính Nghị: Xem chú thích 7, Bia số 12.

31. Ngô Tòng Củ: Xem chú thích 13, Bia số 12.

32. Nguyễn Trọng Hiệu: Xem chú thích 14, Bia số 12.

33. Chử Sư Đổng: Xem chú thích 18, Bia số 12.

34. Hà Cảnh Đạo: Xem chú thích 19, Bia số 12.

35. Bùi Công Phụ: Xem chú thích 31, Bia số 12.

36. Vũ Tuân: Xem chú thích 33, Bia số 12.

37. Phạm Điển Kính: Xem chú thích 34, Bia số 12.

38. Vũ Hữu Nghiêm: Xem chú thích 38, Bia số 12.

39. Đoàn Sư Đức: Xem chú thích 39, Bia số 12.

40. Phạm Kính Trung: Xem chú thích 35, Bia số 12.

41. Ngô Miễn Thiệu: Xem chú thích 3, Bia số 13.

42. Nghiêm Văn Hậu: Xem chú thích 10, Bia số 13.

43. Nguyễn Cư Nhân: Xem chú thích 13, Bia số 13.

44. Nguyễn Củng: Xem chú thích 14, Bia số 13.

45. Vương Hoành: Xem chú thích 16, Bia số 13.

46. Nguyễn Hoà Trung: Xem chú thích 17, Bia số 13.

47. Ngọ Doãn Trù: Xem chú thích 18, Bia số 13.

48. Nguyễn Tảo: Xem chú thích 19, Bia số 13.

49. Đỗ Văn Quýnh (1492-?) người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Hoàng Ninh Việt Yên tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Thìn niên hiệu Quang Thiệu thứ 5. (1520) đời vua Lê Chiêu Tông. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ, Tổng binh, có tài liệu ghi làm đến Quốc tử giám Tư nghiệp.

50. Nguyễn Công Nghị (?-?) người xã Đại Đồng huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Đại Đồng Thành huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Thìn niên hiệu Quang Thiệu thứ 5. (1520) đời vua Lê Chiêu Tông. Ông từng đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc), làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước Đạt Lễ bá. Có tài liệu ghi là Nguyễn Công Nghi.

51. Nguyễn Hữu Du (?-?) người xã Nội Duệ huyện Tiên Du (nay thuộc xã Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Thìn niên hiệu Quang Thiệu thứ 5. (1520) đời vua Lê Chiêu Tông. Làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư.

52. Hoàng Văn Tán (?-?) người xã Xuân Lôi huyện Vũ Ninh (nay thuộc huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh, khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên thứ 2. (1523) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông được giao cùng với Nguyễn Văn Thái thảo tờ chiếu của Lê Cung Hoàng nhường ngôi cho Mạc Đăng Dung. Sau đó, ông làm quan nhà Mạc đến chức Tả Thị lang Bộ Lễ.

53. Nguyễn Thuyên (?-?) người xã Đào Tai huyện Quế Dương (nay thuộc xã Đào Viên huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh, khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên thứ 2. (1523) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông từng đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc), làm quan đến chức Thừa chính sứ. Khi mất, ông được tặng chức Thượng thư, tước Lương Ngạn bá, có tài liệu ghi là tặng tước hầu.

54. Nguyễn Đình Chương (?-?) người xã Trung Trinh huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Trung Chính huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân đệ nhất danh, khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên thứ 2. (1520) đời vua Lê Cung Hoàng. Trước khi đi thi từng làm Tri huyện, sau không ra làm quan với nhà Mạc. Khi mất, ông được phong phúc thần. Có tài liệu ghi ông là Đoàn Đình Chương.

55. Nguyễn Khắc Trung (?-?) người xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Ninh Hiệp huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên thứ 2. (1523) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông làm quan đến chức Hiến sát sứ.

56. Nguyễn Khắc Cần (?-?) người xã Đặng Xá huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Trừng Xá, huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên thứ 2. (1523) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông giữ các chức quan, như Tổng binh, Tham chính.

57. Nguyễn Hanh (1483-?) người xã Hoa Thiều huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Hương Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên thứ 2. (1523) đời vua Lê Cung Hoàng. Trước khi đi thi đã làm Huấn đạo, sau làm quan đến chức Đề hình Giám sát Ngự sử. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Thời Hanh.

58. Bùi Khắc Thầm (1493-?) người xã Lai Xá huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Trung Chính huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên thứ 2. (1523) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông làm quan đến chức Tự khanh.

59. Nguyễn Văn Hiến (1507-?) người xã Đặng Xá huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Trừng Xá huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh, khoa Bính Tuất niên hiệu Thống Nguyên thứ 5. (1526) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông làm quan nhà Mạc đến chức Tham chính và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Có tài liệu ghi ông người xã Cẩm Xá huyện Thiện Tài.

60. Lưu Doãn Trung (?-?) người xã Vương Xá huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Nghĩa Đạo huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh, khoa Bính Tuất niên hiệu Thống Nguyên thứ 5. (1526) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông làm quan nhà Lê đến chức Thị lang, khi nhà Lê mất, ông không chịu ra làm quan với nhà Mạc. Có tài liệu ghi ông là Lưu Trung Doãn người Ngọc Xá huyện Siêu Loại.

61. Nguyễn Bỉnh Khuê (1503-?) người xã Vĩnh Thế huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Trí Quả huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Thống Nguyên thứ 5. (1526) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông làm quan đến chức Hàn lâm Hiệu lý.

62. Phạm Đình Quang (?-?) người xã Cổ Lãm huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Bình Định huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Hội nguyên, thi Đình đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Thống Nguyên thứ 5. (1526) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông làm quan đến chức Hiến sát sứ.

63. Nguyễn Xưởng (?-?) người xã Ngô Cương huyện Gia Định (nay thuộc xã Nhân Thắng huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Thống Nguyên thứ 5. (1526) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Lễ. Khi nhà Mạc lên ngôi, ông giữ trọn tiết với nhà Lê, nhịn ăn mà chết. Nhà Lê Trung hưng, ông được phong là phúc thần. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Thưởng người xã Ngô Đồng huyện Gia Định.

64. Nguyễn Tư Trực (?-?) người xã Đoan Bái huyện Yên Việt (nay thuộc xã Đoan Bái huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Thống Nguyên thứ 5. (1526) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông làm quan đến chức Tự khanh, khi họ Mạc lên ngôi, ông uống thuốc độc tự vẫn. Có tài liệu ghi ông là Khổng Tư Trực.

65. Phạm Vĩnh Truyền (1474-?) người xã Hoa Kiều huyện Thiện Tài (nay thuộc xã An Thịnh huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Thống Nguyên thứ 5. (1526) đời vua Lê Cung Hoàng. Ông làm quan đến chức Hiến sát sứ. Sau, ra làm quan nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước hầu.

In