Tạp chí Hán Nôm >> TCHN từ 2006 về sau >> Tác giả >> N >> Nghiêm Thu Nga
Nghiêm Thu Nga
Tìm hiểu quan hệ giữa La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp với vua Quang Trung Nguyễn Huệ qua văn bản Hạnh Am di văn (Tạp chí Hán Nôm, Số 2 (105) 2011, Tr.48 - 55)

Cập nhật lúc 16h09, ngày 28/03/2013

TÌM HIỂU QUAN HỆ GIỮA LA SƠN PHU TỬ NGUYỄN THIẾP VỚI VUA QUANG TRUNG NGUYỄN HUỆ QUA VĂN BẢN HẠNH AM DI VĂN

ThS. NGHIÊM THỊ THU NGA

Học viện Chính trị Hành chính QG Hồ Chí Minh

1. Lịch sử Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX được các nhà sử học đánh giá là giai đoạn có nhiều biến động phức tạp nhất trong lịch sử dân tộc. Chế độ phong kiến đi vào con đường bế tắc và khủng hoảng. Ngược lại, văn học Việt Nam giai đoạn này lại phát triển hết sức rực rỡ. Chính thời gian này lại sản sinh ra nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà chính trị có những đóng góp không nhỏ trong sự nghiệp phát triển văn hóa nước nhà.

Một trong những tác gia văn học, nhà chính trị thời kỳ này được nhiều tư liệu nhắc đến là La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp (1723 - 1804) - một người có quan hệ đặc biệt với các vua thời Tây Sơn, đặc biệt là vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Mối quan hệ giữa vua Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp thể hiện qua những bức thư từ, chiếu, biểu hết sức quan trọng còn được chép trong văn bản Hạnh Am di văn 幸庵遺文.

Văn bản Hạnh Am di văn hiện còn một bản lưu giữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm mang kí hiệu VHb. 212. Văn bản gồm 3 phần. Phần 1 (gồm 10 tờ đầu) là những bài ca nói về thú ẩn dật nơi non xanh nước biếc, có nhắc đến tên gọi “La Sơn Hạnh Am Nguyễn phu tử” nhưng không ghi tên tác giả. Phần 2 (từ tờ 11 đến hết tờ 33) là thư, chiếu, chỉ của các vua Tây Sơn (vua Quang Trung và vua Cảnh Thịnh) và Nguyễn Ánh gửi cho La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp cùng thư, biểu tấu của La Sơn Phu tử gửi cho các vua Tây Sơn (không có bức nào gửi cho Nguyễn Ánh). Phần 3 gồm từ tờ 34 đến tờ 40 là bài văn tế Trình Quốc công (Nguyễn Bỉnh Khiêm) do Đinh Thời Trung soạn. Như vậy, chỉ có Phần 2 là tập hợp các tác phẩm có ghi tác giả rõ ràng, là những văn kiện liên quan đến triều Tây Sơn và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp. Ở đây, chúng tôi xin giới thiệu Phần 2 của văn bản.

Phần này sao chép tất cả 16 bức thư, chiếu, chỉ, biểu tấu, qua bảng thống kê sau:

 


STT

Thời gian

Chủ thể - Đối tượng

Nội dung

1

Ngày 18 tháng 12 năm Thái Đức 9

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp

Mời ra làm quan

2

Ngày 9 tháng 1 năm Cảnh Hưng 48

La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp gửi Vua Quang Trung Nguyễn Huệ

Từ chối lời mời

3

Ngày 10 tháng 8 năm Thái Đức 10

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp

Mời ra làm quan

4

Ngày 2 tháng 9 năm Chiêu Thống nguyên niên

La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp gửi Vua Quang Trung Nguyễn Huệ

Từ chối lời mời

5

Ngày 13 tháng 9 năm Thái Đức 10

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp

Mời ra làm quan

6

Ngày 18 tháng 3 năm Thái Đức 11

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp

Mời ra hội kiến để bàn quốc sự

7

Ngày 3 tháng 9 năm Thái Đức 11

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp

Hối thúc việc xem đất lập đô

8

Ngày 4 tháng 9 năm Quang Trung 2

La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp gửi Vua Quang Trung Nguyễn Huệ

Từ chối hợp tác và trả lộc

9

Ngày 5 tháng 10 năm Quang Trung 2

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp

Không cho trả lộc, mời ra phụ tá

10

Ngày 10 tháng 12 năm Quang Trung 2

La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp gửi Vua Quang Trung Nguyễn Huệ

Bàn về xứ Nghệ An và đạo trị nước

11

Ngày 10 tháng 7 năm Quang Trung 4

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp

Mời ra giúp việc nước

12

Ngày 10 tháng 8 năm Quang Trung 4

La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp gửi Vua Quang Trung Nguyễn Huệ

Bàn về 3 việc hệ trọng: Quân đức-Dân tâm-Học pháp

13

Ngày 20 tháng 8 năm Quang Trung 4

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp

Quyết định lập Sùng Chính thư viện, ban cho làm Viện trưởng

14

Ngày 17 tháng 11 năm Quang Trung 5

La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp gửi vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản

Trả lộc và xin quay lại cuộc đời ẩn dật

15

Ngày 10 tháng 12 năm Cảnh Thịnh 8

Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp

Mời ra bàn quốc sự

16

Ngày 2 tháng 6 năm Cảnh Hưng 62

Chúa Nguyễn Ánh gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp

Cho phép về núi


(Từ đây, chúng tôi xin được lấy số thứ tự làm tên gọi cho từng bức thư, chiếu chỉ, biểu tấu. Ví dụ: Bức thư 1 - ứng với STT 1)

2. Các bức thư, chiếu, chỉ, biểu được chép lại trong Hạnh Am di văn là những tư liệu có giá trị, tìm hiểu mối giao thiệp giữa La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp với các vua Tây Sơn, đặc biệt là vua Quang Trung Nguyễn Huệ.

Qua phần thống kê trên, ta thấy La Sơn Phu tử có mối giao thiệp với ba đời vua lúc bấy giờ: vua Quang Trung, vua Cảnh Thịnh của triều Nguyễn Tây Sơn và vua Gia Long Nguyễn Ánh. Trong đó, người có mối giao thiệp lâu dài và sâu sắc nhất với Nguyễn Thiếp là vua Quang Trung. Hạnh Am di văn có 16 bức thư, chiếu, biểu thì đã có đến 13 bức thư thể hiện mối giao thiệp giữa vua Quang Trung với Nguyễn Thiếp. Nhà vua đã từng nhiều lần thảo chiếu thư mời Phu tử ra hợp tác ngay từ những năm còn làm Đại Nguyên soái (Bức thư 1thư 3). Sau khi lên ngôi Hoàng đế, nhà vua lại nhờ Phu tử xem đất định đô ở Nghệ An (Bức thư 7), mời Phu tử làm Viện trưởng Viện Sùng Chính (Bức thư 13). La Sơn Phu tử cũng đã thảo những bức thư, biểu tấu hoặc để từ chối (Bức thư 2thư 4) hoặc xin làm “cố vấn bên ngoài” (Bức thư 8), hoặc để dâng nhà vua những kế sách quan trọng về chính sự (Bức thư 10thư 12). Những thư từ, chiếu, biểu giao thiệp qua lại giữa La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp với vua Quang Trung đã dần chuyển mối quan hệ từ “đối đầu” sang “đối thoại”, hợp tác và gắn bó ân tình sâu nặng giữa một vị tân vương triều đại mới với bậc cựu thần tiền triều. Dưới thời vua Quang Trung trị vì, La Sơn Phu tử trở thành vị cố vấn đặc biệt, một người bạn tâm giao tri kỷ. Sau khi vua Quang Trung băng hà (1792), vai trò của La Sơn Phu tử không còn được như trước. Không thực hiện được trọn vẹn lý tưởng của mình, Nguyễn Thiếp đành dâng biểu xin được trả lộc để trở về trại núi (Bức thư 14).

Đến năm 1800, khi Tây Sơn lâm vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc, vua Cảnh Thịnh mới cho mời Nguyễn Thiếp bàn quốc sự để đối phó với tình hình (Bức thư 15). Nguyễn Thiếp một lần nữa lại trở thành vị quốc sư của triều Nguyễn Tây Sơn.

Năm 1802, vua Gia Long Nguyễn Ánh lên ngôi, trước thái độ ung dung của người ẩn sĩ đạo cao đức trọng, Nguyễn Ánh càng nể phục và muốn triệu mời Nguyễn Thiếp làm phụ tá, nhưng Nguyễn Thiếp vốn xin được tiếp tục cuộc đời ẩn dật. Nguyễn Ánh ban chỉ bằng lòng (Bức thư 16). Trong tập Hạnh Am di văn, không có chứng cớ nào cho thấy thái độ tình cảm của La Sơn Phu tử đối với Nguyễn Ánh.

Có thể nói cuộc hội ngộ giữa vua Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp là cuộc hội ngộ hiếm có trong lịch sử. Trước hết, đó là mối quan hệ giữa hai nhân vật lịch sử: một người là vị tân vương triều đại mới, một người là vị tôi trung tiền triều.

2.1. Vua Quang Trung - vị tân vương triều đại mới: Năm 1786, sau khi hoàn thành sứ mệnh diệt Trịnh phò Lê, Nguyễn Huệ trở về Phú Xuân, bỏ lại Bắc Hà ngai vàng vua Lê. Nhưng nhà Lê đã không đủ sức đảm nhiệm vai trò lịch sử của mình. Đứng trước yêu cầu cấp thiết của lịch sử: thu phục nhân tâm, ràng buộc lòng người Nam - Bắc, tập hợp lực lượng để đánh đuổi thù trong giặc ngoài, Nguyễn Huệ quyết định chính vị, lên ngôi Hoàng đế với niên hiệu Quang Trung, kéo đại binh ra Bắc và lập một chiến công lừng lẫy: đánh tan hai mươi chín vạn quân Thanh, giải phóng kinh thành Thăng Long và giải phóng đất nước.

Sau khi đánh đuổi quân Thanh, vua Quang Trung tiến hành trên qui mô lớn công cuộc xây dựng lại đất nước. Nhà vua đã đem lại một luồng sinh khí mới cho đời sống dân sinh và quang cảnh mới cho lịch sử dân tộc sau nhiều năm đằng đẵng triền miên trong nội chiến.

2.2. La Sơn Phu tử - vị tôi trung tiền triều: Đối với dân tộc, Nguyễn Huệ là một anh hùng. Nhưng đối với tuyệt đại đa số tầng lớp trí thức phong kiến đương thời, sự kiện người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ và triều Tây Sơn lên ngôi, chấm dứt sự tồn tại lâu dài của một “triều đại chính thống” - triều Lê - là cả một nỗi bàng hoàng sửng sốt. Có biết bao người đã coi Tây Sơn là “ngụy triều”, coi Quang Trung là “giặc” để rồi chạy theo Lê Chiêu Thống, dù biết rõ triều Lê đã đến hồi cáo chung.

Nguyễn Thiếp có một cách hành xử khác, hơn ai hết, Phu tử là người đủ bản lĩnh để thấu hiểu thời thế. Không phải Nguyễn Thiếp không hiểu sự chính nghĩa trong những việc làm của Nguyễn Huệ. Nhưng dầu sao Nguyễn Thiếp cũng là cựu thần nhà Lê, đã từng “ăn lộc” nhà Lê. Làm quan cho triều Lê, Nguyễn Thiếp tự kí vào bản khế ước ràng buộc lòng tôi trung bất di bất dịch của mình. “Tôi trung không thờ hai chúa”, nếu ra với Tây Sơn, thể nào Phu tử cũng mang tiếng bất trung. Suốt bao năm, Nguyễn Thiếp cam tâm làm một kẻ lỡ thời, cũng là để giữ tròn tiết sạch giá trong của một kẻ sĩ. Chính vì địa vị éo le như vậy, con đường đến với Tây Sơn của Nguyễn Thiếp là cả một sự giằng xé, thái độ của Nguyễn Thiếp không nhất quán đơn giản mà là cả một quá trình với những diễn biến phức tạp.

Từ thái độ lạnh lùng bất hợp tác (Bức thư 1thư 4)

Có thể khẳng định lòng cô trung với triều Lê là một trong những những nguyên nhân cơ bản quyết định thái độ ban đầu này của Nguyễn Thiếp với triều Tây Sơn. Tất nhiên, khi thảo những bức thư từ, biểu tấu để dâng lên người đứng đầu vương triều Tây Sơn, Nguyễn Thiếp đã không trực tiếp bày tỏ lòng cô trung với tiền triều. Dầu vậy, không ít ngôn từ, chữ nghĩa của văn bản mang ý nghĩa của thái độ đó.

Trước hết ta hãy chú ý đến các đại từ nhân xưng, hô gọi. Trong tiếng Việt, đây là nhóm từ thể hiện quan hệ tình cảm rất rõ nét. Trong những bức thư đầu tiên mà Nguyễn Thiếp gửi vua Quang Trung, luôn xuất hiện các từ xưng hô xã giao, lịch thiệp và khách sáo: Phu tử dè dặt nhận mình là “tiện sinh” và tôn người là “Đại Nguyên soái”, “Đại Nguyên soái các hạ”. Đằng sau sự khiêm xưng mình và trọng đãi người là thái độ lạnh lùng, xa cách, kín kẽ của Phu tử.

La Sơn Phu tử không chỉ lạnh lùng mà còn bất hợp tác với Tây Sơn. Chứng cớ hùng hồn nhất cho thái độ đó là cách đề niên hiệu ở cuối mỗi bức thư: ở Bức thư 1 là niên hiệu “Cảnh Hưng thứ 48”, ở Bức thư 4 là niên hiệu “Chiêu Thống năm đầu”, nghĩa là niên hiệu thuộc Lê triều. Điều đó giúp ta hiểu rằng Phu tử muốn ngầm đối lại với niên hiệu “Thái Đức” của triều Nguyễn Tây Sơn trong những bức thư mời của Nguyễn Huệ.

Không chỉ trên ngôn từ, lòng cô trung với triều Lê cũng lộ ra qua lập luận hết sức đuối lý của Nguyễn Thiếp khi Phu tử viện cớ để chối từ việc ra giúp Tây Sơn: “Lệ xưa, kẻ làm quan 70 tuổi là được nghỉ. Bản triều ưu ái kẻ già, 65 tuổi đã được cho về dưỡng lão. Đáng về mà lại ra, là mang tội thật nặng.” (Bức thư 2). Điều này chứng tỏ rằng, khi ấy, trong mắt Phu tử, chỉ có Lê triều là đáng tôn, và trong trái tim Phu tử, vị trí của triều Lê là không ai có thể thay thế. Đây là lời từ chối khéo léo nhưng không kém phần quyết liệt đối với lời mời của Nguyễn Huệ và cũng là bằng cớ cho thấy thái độ bất hợp tác với Tây Sơn.

Đến sự hợp tác e dè mà tự nguyện (Bức thư 8)

Sự giằng xé mâu thuẫn trong lòng Nguyễn Thiếp giữa một bên là niềm tri ân trước tấm thịnh tình của vua Quang Trung Nguyễn Huệ với một bên là lòng tự trọng của một kẻ sĩ chính là cội nguồn sản sinh ra thái độ nửa vời đó của Phu tử với Tây Sơn.

Trong sâu thẳm đáy lòng, Nguyễn Thiếp đã bị nao núng trước con người và tấm lòng của Nguyễn Huệ. Phu tử đã thầm coi Nguyễn Huệ là một đấng trượng phu, một bậc anh hùng, một vị quân vương xứng đáng cũng như đã thừa nhận sự hiện diện chính đáng, hợp đạo của vương triều Tây Sơn. Thế cho nên, đến lúc này, trong bài biểu, Nguyễn Thiếp mới dùng từ “cẩn tấu”, đề niên hiệu “Quang Trung”, tôn Nguyễn Huệ là “Hoàng thượng” và nhận mình là “tiện thần”. Lần đầu tiên, Nguyễn Thiếp đã không cố tình viện cớ để thoái thác và bất hợp tác với Nguyễn Huệ mà lại xin được làm “cố vấn bên ngoài”. Chỉ có điều, vì thanh danh kẻ sĩ, La Sơn Phu tử không thể nhận lộc vua ban, càng không thể ra làm quan lúc này, mà đành xin được làm một “kẻ dật dân trong đời thịnh”.

Bài biểu tấu có ý nghĩa bản lề trong mối quan hệ giữa La Sơn Phu tử với triều đại mới.

Và cuối cùng là sự hợp tác chân thành, cởi mở (Bức thư 10thứ 12)

Bắt đầu từ Bức thư 10, thái độ của Nguyễn Thiếp với Tây Sơn đã hoàn toàn đổi khác, thân thiện hơn, cởi mở hơn.

Bức thư 10, qua câu chuyện nhỏ về xứ Nghệ An quê hương mình, Nguyễn Thiếp đã gửi đến với nhà Tây Sơn một thông điệp lớn về đạo trị nước, về việc xác định vai trò quan trọng của dân để từ đó dốc lòng vào sự nghiệp yên dân.

Bức biểu tấu tâm huyết bị đi vào quên lãng vì nhiều lí do khách quan, nhưng Phu tử không nản lòng. Tình cảm trìu mến với Tây Sơn đã thôi thúc Phu tử dâng lên bức biểu tấu gan ruột. Bức thư 12 là một bản kế sách tuyệt vời mà người ẩn sĩ không ngần ngại hiến cho Tây Sơn. Nội dung bàn về ba vấn đề cốt lõi của chính sự: quân đức, dân tâm và học pháp. Phu tử đã đưa ra những kế sách tiến bộ đúng đắn và có ý nghĩa thiết thực với thời đại lúc bấy giờ. Phải có tấm lòng trìu mến chân thành, Nguyễn Thiếp mới có thể nói ra những lời gan ruột, bộc trực như vậy.

3. Đọc toàn bộ văn bản Hạnh Am di văn, ta nhận thấy dù vua Quang Trung Nguyễn Huệ và La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp đứng ở hai tư thế khác nhau, nhưng giữa họ lại có nhịp cầu đưa họ đến gần nhau.

3.1. Vua Quang Trung với “cầu hiền chi tâm” và niềm khắc khoải đi tìm tri kỉ: Trong quá trình thực hiện đại nghiệp của mình, vua Quang Trung Nguyễn Huệ luôn coi trọng việc chiêu hiền đãi sĩ. Ngay từ buổi đầu khởi nghĩa, ông đã biết cách thu phục nhân tâm. Nguyễn Huệ đã phát hiện ra nhân tài và thu về dưới trướng Tây Sơn không ít trang anh tài tuấn kiệt. Sau khi lên ngôi, cùng với nhiều chính sách ngoại giao và nội trị, vua Quang Trung không quên việc phát triển nhân tài. Nhà vua ban Chiếu cầu hiền rộng khắp thiên hạ, hàng năm mở các cuộc thi chọn người tài cho hết thảy mọi người cùng tham gia. Quả thực, “cầu hiền chi tâm” của vua Quang Trung như một thứ nam châm thu hút nhân tài.

Chỉ duy có La Sơn Phu tử là khiến cho Nguyễn Huệ phải nhọc lòng, kì công hơn cả. Ngay từ lúc nghe danh người ẩn sĩ đất La Sơn, Nguyễn Huệ đã tha thiết tìm mời. Nhưng hết lần này đến lần khác, nhà vua chỉ nhận được những bức thư, biểu, trần tình từ chối không ra. Vậy mà những bức thư mời, dù trong hoàn cảnh nào cũng nhã nhặn, tôn kính, cũng khẩn thiết, chân thành. Điều đó đã khiến cho kẻ cựu thần kiên gan phải lung lay, cho người ẩn sĩ lạnh lùng phải âm thầm xúc động, để rồi phải vụt dậy, dời chân xuống núi, để mang tiếng “thờ hai chúa” với đời. Đúng như lời Trần Thị Huyền Trang nhận xét: “Nếu không thật sự quý trọng đức độ và tài năng của Nguyễn Thiếp, nếu không có một tâm hồn rộng rãi, một tầm nhìn quán thế, chắc chắn Quang Trung không thể đưa Nguyễn Thiếp trở lại với đời” (1)

Có thể nói tư tưởng chuộng hiền đãi sĩ là nội dung bao trùm trong toàn bộ các bức chiếu thư mà các vua Tây Sơn gửi cho La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp.

Vua Quang Trung đã từng thú nhận: “Bậc danh thế xuất hiện, đó là điều mà quả đức hằng mơ tưởng, mười lăm năm nay chưa từng có khoảnh khắc dám quên”(Bức thư 5). Sau này khi Cảnh Thịnh kế vị, cũng dành cho Nguyễn Thiếp một niềm ưu ái, trông mong chân thành: “Tiên sinh là người mà bấy nay được mọi người trông mong. Trẫm đã dọn lòng để đợi.” (Bức thư 15).

Các vua Tây Sơn đã gửi vào trong những bức chiếu thư tất cả niềm tin và sự kì vọng dành cho người hiền sĩ: “Nay thiên hạ đảo điên, nếu không cùng Phu tử thì biết cùng ai mà cứu gỡ” (Bức thư 6). Vua Cảnh Thịnh cũng khẳng định vị thế này của Nguyễn Thiếp: “Hoàng thiên còn dành bậc lão đại để mở vận thái, sinh vận trị. Người giúp đỡ khai sáng đó, trẫm đang vô cùng kì vọng ở Tiên sinh” (Bức thư 15).

Ngay từ bức thư đầu tiên, vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã khẳng định rằng chính La Sơn Phu tử là người nắm giữ trọng trách - những bậc hiền thần lương đống: “Xin Phu tử thôi cái nhã thú ung dung, mà nghĩ tới lòng tôi biết bao chân thành, buông cày ném câu, cầm giữ cái sự nghiệp của Y - Khương” (Bức thư 1). Nguyễn Thiếp được vua Quang Trung đánh giá rất cao, có tầm quan trọng: “Trẫm ba lần xa giá Bắc thành, Tiên sinh mới khuất mình bàn chuyện thiên hạ. Có câu: “Một lời có thể làm hưng thịnh quốc gia”. Tiên sinh hẳn có thế chứ đâu phải là người làm việc cỏn con”. (Bức thư 9).

Chính vì vậy, nhà vua đã không ngần ngại giao cho La Sơn Phu tử những trọng trách lớn lao: ban chức Viện trưởng Viện Sùng Chính, trông coi việc dịch sách và đào tạo nhân tài, hưng khởi chính học. Và công việc hệ trọng nhất là chọn đất lập đô, nhà vua đã phó thác hoàn toàn cho Phu tử.

Điều đáng trân trọng là việc chuộng hiền đãi sĩ luôn canh cánh trong lòng nhà vua Quang Trung, thủy chung không thay đổi: “Tấm lòng cầu hiền, quả đức nào dám mảy may sinh lòng đầu chăm sau nản” (Bức thư 5). “Cầu hiền chi tâm”, tự nó sáng lung linh như viên ngọc quý, như tấm lòng của vua Quang Trung Nguyễn Huệ.

Trong lòng vua Quang Trung, Nguyễn Thiếp là một đại nho, một bậc cao ẩn. Nhà vua tôn trọng Phu tử không chỉ vì tài năng mà còn vì đạo cao, đức trọng. Trong sự mời đón Nguyễn Thiếp để bàn quốc sự, ông cũng đã có ý thỉnh Phu tử làm thầy và luôn lấy lễ tôn sư mà tiếp. Khi ra Bắc lần hai để chống quân Thanh, Quang Trung đã cho mời Nguyễn Thiếp hội kiến để bàn mưu đánh giặc (Bức thư 6). Hai bên đã rất tâm đầu ý hợp. Kế sách đánh Thanh, thực ra, vua Quang Trung đã trù định kĩ, song ý kiến của Phu tử làm nhà vua yên tâm.

3.2. La Sơn Phu tử và nỗi đau đáu cứu đời: Suốt bao nhiêu năm khuôn mình theo Khổng giáo, La Sơn Phu tử có những tư tưởng mang tính chuẩn mực, trong đó có đạo vua tôi. Cũng như các bậc chân Nho khác, Nguyễn Thiếp coi lòng trung là thước đo giá trị của cá nhân trong cuộc đời. Vì trung quân, Phu tử đã “rắp mong treo ấn từ quan”. Vì trung quân, mà giai đoạn đầu, Phu tử khước từ không giúp Quang Trung. Sau Phu tử mới thực sự thừa nhận Quang Trung là ông vua xứng đáng. Và tuy không ra làm quan, Nguyễn Thiếp vẫn giúp nhà vua chấm thi, xem đất lập đô mới.

Vì tự trọng, Nguyễn Thiếp phải từ quan, nhưng ông không quay lưng lại với cuộc đời. Phu tử ẩn nhẫn để chờ thời, Hạnh Am di văn là minh chứng cho nỗi lòng đó. Lần đầu tiên, khi quyết định hợp tác với Tây Sơn, trong bài biểu dâng vua Quang Trung, Phu tử cất tiếng kêu thương cho tình cảnh của người dân bản trấn: “Nghệ An đất xấu dân nghèo, theo như trước đây, chỉ chịu suất binh chứ chưa hề phải đóng tiền lúa gạo. Nay binh, lương đều phải xuất, số lính lại tăng bội phần. Người canh tác thì ít, kẻ chờ ăn thì nhiều. Chi phí nuôi người nhà nhiều hơn công thuế. Gặp năm mất mùa, dịch bệnh, người thì chết đói, kẻ trôi dạt lang thang. Số còn lại mười phần chỉ còn thấy năm, sáu. Mùa đông năm nay lại hạn hán, ruộng đồng bỏ hoang, ruộng cày cấy được quả là ít ỏi.” (Bức thư 10). Thực trạng về trấn Nghệ An với bao điều bất ổn lần đầu tiên được phơi bày. Nhưng điều quan trọng là đoạn văn trên không chỉ là bức tranh chân thực sinh động và khách quan về hiện thực, nó là kết quả của một tấm lòng, một trái tim chan chứa nỗi đau đời.

Chưa dừng ở đó, thương cho người dân, Phu tử lại tiếp tục truy tìm căn nguyên gây ra sự khốn đốn của họ: “Một xứ mười hai huyện mà chia làm ba, bốn trấn. Trấn này, trấn kia không cùng nhau thống nhiếp. Quan càng nhiều thì dân càng bị nhũng nhiễu. Công việc, quyền hạn không thống nhất. Tướng hiệu, quan lại không cai quản được.” (Bức thư 10).

Từ chỗ biết rõ căn nguyên, nhà ẩn sĩ cởi mở đề ra những giải pháp tích cực để cải thiện tình hình, cứu nguy cho lương dân vô tội. Vì chính sự phiền hà gây nhũng nhiễu cho dân, Phu tử khuyên nhà vua tuyển dụng quan lại một cách chặt chẽ: “Cúi mong hoàng thượng chọn lựa ra một viên có đủ thanh, cần, nhân, dũng để làm chánh trấn và một viên sẵn có văn học làm hiệp tá” (Bức thư 10). Nguyễn Thiếp cũng hiểu rõ rằng một lí do khiến lòng dân không yên là vì họ vẫn còn phải chịu sự bất công đối xử, vì vậy Phu tử hướng nhà vua và tầng lớp thống trị đến lẽ công bằng trong đạo cai trị: “Dân gian đã đau ốm khổ sở phải nhất nhất khám xét, tùy nhiều ít mà chước lượng giảm xá thuế khóa cho họ. Kẻ điêu ác thì trừ đi, người lương thiện thì giúp đỡ.” (Bức thư 10). La Sơn Phu tử - một người tha thiết nỗi thương đời, trĩu nặng nỗi đau đời, lòng nhân đạo hết sức thiết thực.

Hiểu rõ nỗi niềm sâu kín của Nguyễn Thiếp, trong các bức thư triệu vời Phu tử, vua Quang Trung luôn nhấn mạnh mục đích của mình là vì sự an nguy của xã tắc, vì hạnh phúc của lương dân. Ở Bức thư 3, sau khi đã phân tích cặn kẽ mọi lí do, vua Quang Trung viết: “Mong Phu tử nghĩ đến thiên hạ, sinh dân mà trở mình đứng dậy, cho quả đức có dịp nhờ thầy, cho đời này có nơi nương cậy”.

Vua Quang Trung và La Sơn phu tử, một người là vị tân vương triều đại mới đầy nhiệt huyết tích cực nhập thế cứu đời, một người là cựu thần tiền triều phải lánh mình nơi non cao. Không hẹn mà nên, như một định mệnh và như một tất yếu lịch sử. Nghiên cứu thư, chiếu, biểu trong Hạnh Am di văn, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về một thời đại anh hùng và hiểu thêm về những con người làm nên lịch sử.

Chú thích:

1. Trần Thị Huyền Trang: Nhạn thần cô - Những văn thần võ tướng của vua Quang Trung Nguyễn Huệ, Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định, 1993, tr.98./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 2 (105) 2011, Tr.48 - 55)

In
Lượt truy cập: