Thông báo Hán Nôm >> Năm 2010
Phạm Minh Đức
14. Giới thiệu 2 bài chế của vua Duy Tân và vua Khải Định sắc phong cho Đoàn Triển (TBHNH 2010)

Cập nhật lúc 17h02, ngày 19/10/2013

GIỚI THIỆU 2 BÀI CHẾ CỦA VUA DUY TÂN VÀ VUA KHẢI ĐỊNH SẮC PHONG CHO ĐOÀN TRIỂN

PHẠM MINH ĐỨC

 Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Đoàn Triển (1854 - 1919) là con thứ cụ Đốc học Đoàn Huyên và cụ bà Nguyễn Thị Nhuyễn. Sinh giờ Dần, ngày 19 tháng 4 năm Giáp Dần, niên hiệu Tự Đức 7 (1854). Quê Hữu Châu, tổng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay là thôn Hữu Thanh Oai, xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Lúc nhỏ tên là Trọng Vinh, sau là Triển, tự Doãn Thành, hiệu là Mai Viên. Năm 33 tuổi ông đỗ Cử nhân Ân khoa Bính Tuất năm Đồng Khánh thứ nhất (1886). Năm 36 tuổi được bổ Tư vụ, rồi Chủ sự Viên ngoại Nha Kinh lược Bắc Kỳ. Sau đó lần lượt làm Tri phủ Bình Giang, Kim Môn, Nam Sách, Ninh Giang, Án sát Hà Nội, rồi thăng Tuần phủ Hà Nam, Tuyên phủ sứ Bắc Giang, cải Tuần phủ Ninh Bình, sung vào Tu thư cục phủ Thống sứ; thăng Tổng đốc Bắc Ninh và Tổng đốc Nam Định. Năm 60 tuổi về hưu hàm Thái tử Thiếu bảo Hiệp tá Đại học sĩ. Ông mất ngày 12 tháng 7 năm Kỉ Mùi (15-8-1919), thọ 66 tuổi, an táng tại sinh phần riêng đầu làng Hữu Thanh Oai.

Tác phẩm:

- An Nam phong tục sách (xã hội, sử), A.153;

- Đoàn Tuần phủ công độc (chính trị), A.502;

- Ấu học Hán tự tân thư (giáo khoa), A.502;

- Mai Viên thi văn tập (văn), v.v…

Lăng Đoàn Triển ở vị trí khá đẹp, rộng rãi thoáng mát thuộc thôn Hữu Thanh Oai xã Hữu Hòa huyện Thanh Trì Hà Nội. Đây là nơi yên nghỉ của Đoàn Triển, nơi đây cũng còn lưu giữ được 8 tấm bia ghi về hành trạng, công đức của ông. Trong đó đáng lưu ý nhất là 2 bài chế của vua Duy Tân và vua Khải Định được khắc lên bia và lên đỉnh ở Lăng. Nhận thấy đây là hai bài chế có giá trị nên chúng tôi giới thiệu trong đợt thông báo Hán Nôm năm nay (2010).

 

Bài thứ nhất

Bia 1 mặt, kích thước 120 x 150 cm. Trán bia có hình lưỡng long chầu nhật, xung quanh có hình rồng, mây hoa lá, chân bia có hình rồng và hoa lá. Bia khoảng 270 chữ.

承天興運,皇帝制曰:朕惟,臣子致身之義無間初終;朝庭優老之恩,特隆眷注。榖辰亶叶,芝綍載。眷惟太子少保、署協佐大學士、領南定總督休致段展,秀挺江東,良馳冀北。文章經濟,早發軔於槐園;聲價品題,雅舒翹於蓮幕。鵬翼雖迴風而垂翅,龍光終出匣以冲牛。四典郡符,兩參案院。兼文事而武備經綸四面之才,歷撫院制臺瑣籥五城之重。周召伯樹棠之愛,南國興思;宋蘄王攜酒之遊,西湖有約。近覽陛辭之疏,深嘉畎畝之忠。囂囂三徑菊松,固無心於名寵;渺渺一方葭露,特軫念於勳賢。玆特準寔授榮祿大夫、協佐大學士,留貫休致。錫之誥命,尚其祇受鴻名,對庥命。雖樂耆英之勝,山水園林;無忘天下之憂,江湖廊廟。有辭無斁,與國同庥。欽哉。

維新十年正月十五日。

 

* Dịch nghĩa:

Vâng mệnh trời hưng vận nước, Hoàng đế ban chế rằng: Trẫm nghĩ, nghĩa tôi con hết mình vì nước, chẳng khác trước sau; ơn triều đình ưu ái người già, quan tâm đặc biệt. Tốt đẹp hợp thời, chiếu ban khen thưởng. Mến thay Thái tử Thiếu bảo, thự Hiệp tá Đại học sĩ, lĩnh Nam Định Tổng đốc, hưu trí, Đoàn Triển, tốt trội Giang Đông(1), tài rong Kí Bắc(2). Văn chương chính trị, sớm tuốt giáo chốn vườn Hòe(3); phẩm chất tiếng tăm, khéo thong dong nơi mạc phủ. Cánh bằng dẫu ngược gió mà rủ xuống(4), sáng rồng chót khỏi hộp để xông Ngưu(5). Quận phù bốn phen, Án viện đôi lần. Gồm văn sự mà võ bị sửa sang, tài năng bốn mặt; trải phủ viện chế đài then chốt, trọng trách năm thành. Chu Thiệu Bá ưa trồng đường lệ, vương vấn cõi Nam(6); Tống Kì Vương quải rượu ngao du, Tây Hồ có hẹn(7). Gần xem lá sớ tạ từ, đáng khen lòng trung săng sắc(8). Nhởn nhơ ba luống cúc tùng, vốn vô tâm nơi danh sủng; mênh mang một phương ơn huệ, đặc biệt ghi nhớ công lao. Nay đặc chuẩn Thực thụ Vinh lộc Đại phu, Hiệp tá Đại học sĩ, hưu trí quê nhà. Ban cho cáo mệnh, những mong kính nhận tiếng to, đối dương mệnh tốt. Dẫu vui cảnh kì anh nhàn tản(9), vườn tược núi sông; không quên niềm ưu tư thiên hạ, sông hồ lang miếu. Ban lời không chán, cùng nước tốt lành. Kính thay.

Ngày 15 tháng Giêng năm Duy Tân thứ 10 (1916).

 

Bài thứ 2

Đỉnh có kích thước 30 cm x 140 cm, xung quanh có hoa văn hoa lá, có khoảng 230 chữ. Nội dung chính như sau:

* Chữ Hán:

奉鐫追封敕文

承天興運,皇帝制曰:君子抱輔世長民之德,退思補過,進思盡忠;熙朝隆酬勳錫寵之恩,生有榮名,死有顯爵。風傳芝綍,雨潤松邱。眷惟太子少保、協佐大學士、領南定總督致事段展,傘嶺鐘英,珥河毓秀。賢書早擢,宦路歷。揮守節而遠播能聲,充書院而擴恢哲學。撫臺三度,北門之鎖鑰宵嚴;制府幾年,南閫之帶裘日暇。雖園林山水、逸跡耆英,而廊廟江湖、用心君子。追憶北巡望幸,髮已白而朝天;近觀文廟祝詞,心猶丹於愛國。無端遠別,神遽托於尾箕;言念前勳,班宜聯於榖璧。著準封為信威子。錫之誥命,尚其光膺顯冊,默慰潛馨。再世草環,作山河之壯氣;千秋茅土,追帶礪之新盟。欽哉。

啟定四年七月十九日。

 

Dịch nghĩa:

Kính khắc sắc truy phong

Vâng mệnh trời hưng vận nước, Hoàng đế ban chế rằng: Quân tử ôm đức giúp đời yên dân, lui về nghĩ sửa sang lầm lỗi, tiến lên lo hết mực trung thành; triều sáng thịnh ơn báo đáp ban khen, sống được vinh danh, chết ban tước rạng. Gió truyền chiếu lệnh, mưa thấm gò tùng(10). Mến thay Thái tử Thiếu bảo, Hiệp tá Đại học sĩ, lĩnh Nam Định Tổng đốc trí sự Đoàn Triển, Tản lĩnh đúc hun, Nhị hà gây tốt. Hiền thư sớm đạt, hoạn lộ trải thăng. Trao trấn giữ mà vang xa tiếng tốt, vào thư viện mà triết học rộng soi. Phủ đài ba dạo, cửa Bắc khóa then tối ngặt; chế phủ mấy năm, cõi Nam áo đai ngày rảnh. Dẫu vườn tược núi sông, Kì anh lẩn dấu; mà lang miếu sông hồ, quân tử gắng lòng. Nhớ khi xưa Bắc tuần may gặp, tóc đã bạc mà gắng gỏi chầu vua; gần đây xem Văn miếu chúc từ, lòng còn son mà nồng nàn yêu nước. Cách xa không mối, thần vội thác nơi Vĩ - Cơ(11); nhớ tới công xưa, ban đúng hợp ngôi cốc bích(12). Chuẩn phong làm Tín uy tử. Ban cho cáo mệnh, những mong sáng chịu ban khen, lặng chút hương thầm. Trọn đời về với cỏ cây, làm tráng khí của núi sông; nghìn thu mao thổ(13), bền vững lời thề. Kính thay.

Ngày 19 tháng 7 năm Khải Định thứ tư (1919).

Hai bài chế của vua Duy Tân và vua Khải Định ban cho Đoàn Triển có nội dung hay, sâu sắc, thấm đẫm tình quân thần. Năm nay là năm kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội thiết tưởng cũng nên nhớ đến Thái tử Thiếu bảo Hiệp tá Đại học sĩ Đoàn Triển và những đóng góp của ông với quê hương, đất nước.

Chú thích:

(1) Tốt trội Giang Đông: chỉ tài văn chương hơn người.

(2) Tài rong Kí Bắc: dùng điển trong Tả truyện Chiêu Công năm thứ tư: “Kí chi Bắc thổ, mã chi sở sinh” (Phía bắc đất Kí, là nơi ngựa sinh). Đời sau dùng điển này để chỉ nơi nhân tài hội tụ.

(3) Hòe viên: dùng điển Vương Hựu đời Tống tự tay trồng ba cây hòe trước sân và nói: con ta sau sẽ làm đến chức tam công. Sau quả nhiên các con ông đều hiển đạt. Đời sau thường sử dụng điển “tam hòe” để chỉ sự thành đạt khoa danh.

(4) Cánh bằng: chỉ chí hướng xa rộng.

(5) Sáng rồng: nguyên chữ là “Long quang”, tức ánh sáng của hai thanh kiếm Long uyên, Thái a do thợ rèn người nước Việt thời Xuân thu đúc. Sau Tần Thủy Hoàng chôn ở đầu nguồn sông Phong để trấn thủy quái. Tương truyền ánh sáng của hai thanh kiếm này chiếu sáng đến tận khu vực sao Đẩu, sao Ngưu. Đầu đời Tây Tấn, Huyện lệnh Phong Thành là Trương Hoa đào nền nhà ngục trong huyện, sâu xuống bốn thước thì thấy một chiếc hộp, khí sáng vô cùng. Trong hộp có hai thanh bảo kiếm khắc chữ Long uyên, Tần a. Ngay đêm hôm đó ánh sáng trên khu vực sao Đẩu, sao Ngưu biến mất. Đời sau thường dùng điển này để hình dung về thanh vọng, tài hoa kiệt xuất.

(6) Thiệu Bá: Thiệu Công Thích - một hiền thần đời Chu, khi đi tuần du phương Nam có trồng những cây cam đường. Về sau nhân dân các vùng phương Nam vì mến ơn đức của ông, nên hết lòng bảo vệ những cây cam đường đó.

(7) Kì Vương: danh tướng đời Nam Tống Hàn Thế Trung, tự Lương Thần, người Tuy Đức, có nhiều công lao trong cuộc chiến tranh Tống - Kim, sau vì phản đối chính sách giảng hòa của Tần Cối, nên bị tước hết binh quyền, ẩn cư tại Tây Hồ, đeo rượu cưỡi lừa, lấy du ngoạn làm vui. Khi mất được truy phong là Kì Vương.

(8) Lòng trung săng sắc: nguyên văn là “quyến mẫu chi trung”, dùng điển từ bài Trí sĩ tạ biểu của Chu Hi đời Tống: “Đông thiên bắc mạch, thượng nan vong quyến mẫu chi trung” (Dời sang phía Đông đến đất Bắc Mạch, vẫn khó quên được lòng trung săng sắc).

(9) Kì anh: dùng điển Văn Ngạn Bác đời Tống khi lưu trú tại Tây đô Lạc Dương từng tụ hội 11 vị sĩ đại phu lão thành, lập ra hội Kì anh. Đời sau dùng chữ “Kì anh” để chỉ người già có đức độ.

(10) Gò Tùng: chỉ phần mộ.

(11) Vĩ - Cơ: tên hai ngôi sao thuộc Nhị thập bát tú, ở đây ám chỉ việc ông Đoàn Triển mất (về trời).

(12) Cốc bích: tên một loại ngọc khuê dành cho quan tước “Tử”. Thuyết văn giải tự có viết: Tước công cầm Hoàn khuê, tước hầu cầm Tín khuê, tước bá cầm Cung khuê, tước tử cầm Cốc bích, tước nam cầm Bồ bích. Ý cả câu trên là: xét về công lao, Đoàn Triển thích hợp được dự vào ban văn, tước Tử.

(13) Mao thổ: chỉ việc phong tước./.

(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.111-116)

In