Thông báo Hán Nôm >> Tổng mục lục
Trương Đức Quả
70. Gia phả họ Lê với 13 vị trung thần tiết nghĩa (TBHNH 2012)

Cập nhật lúc 22h05, ngày 09/02/2015

GIA PHẢ HỌ LÊ VỚI 13 VỊ TRUNG THẦN TIẾT NGHĨA

TRƯƠNG ĐỨC QUẢ

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Trong quá trình tìm hiểu về những danh nhân quê hương trong lịch sử, chúng tôi được gia đình anh Lê Xuân Thu ở thôn Bầu xã Kim Chung huyện Đông Anh, Hà Nội cung cấp 2 quyển gia phả chép bằng chữ Hán xen Nôm. Quyển 1 có 30 trang. Từ trang 1 đến trang 13 gia phả gốc ghi chép họ tên về 13 vị được phong thần Tiết Nghĩa, trong đó có cụ Tiền tổ Lê Vô Cương, từ trang 14 chép gia phả họ Lê, bắt đầu từ cụ Tiền tổ Lê Vô Cương và 6 đời nữa cho đến đầu trang 28. Nửa cuối trang 28 và trang 29 chép bài văn khấn cúng giỗ cụ Lê Vô Cương, trang 30 chép một số ruộng lộc hương hoả của họ ở các xứ đồng.

Quyển hai chỉ có 8 trang được cụ Lê Văn Tình biên chép bằng chữ Hán vào năm 1961, trong đó bên cạnh mỗi chữ Hán đã được phiên âm Hán Việt. Quyển hai này tiếp tục ghi các đời họ Lê nối tiếp về sau.

Điều đáng chú ý ở quyển 1 có ghi danh 13 vị trung thần. Mười ba vị thần tiết nghĩa này được ghi trong bản tâu của hai vị là Tả Thị lang Bộ Lễ Dương Quận công Nguyễn Năng Thiệu và Tả Thị lang đạo Phiên nhất Nguyễn Tông Phong. Bản tâu này được chép ngay phần đầu của cuốn gia phả. Chữ Hán được chép trên loại giấy dó đã lâu ngày có một vài chữ đã bị mờ. Ở phần cuối không đề niên đại cũng như người sao chép. Nhưng qua tự dạng chữ Hán còn thô chưa nhuyễn chúng tôi cho rằng đây cũng là một bản gia phả sao lại từ một bản cổ khác, bản sao này có niên đại chép ước chừng trên trăm năm lại đây mà thôi. Tuy nhiên đây là một bản gia phả không chỉ quý giá đối với dòng họ Lê thôn Bầu mà trong đó ghi chép được một bản tấu có giá trị tư liệu tốt góp phần làm sáng tỏ thêm về những nhân vật được các triều thời Trung hưng sau này phong tiết nghĩa.

Vì vậy chúng tôi dịch giới thiệu cùng bạn đọc bản tâu chép trong quyển gia phả họ Lê này.

Chúng thần Tả Thị lang Bộ Lễ Dương Quận công Nguyễn Năng Thiệu, Tả Thị lang đạo Phiên Nhất Nguyễn Tông Phong kính tâu:

Bọn thần được giao xem xét việc: quan Tham tòng Phạm Công Khán có tờ phiếu bẩm trình rằng: Phạm Công Khán được giao luận xét các bề tôi tiết nghĩa triều trước được phong làm Phúc thần. Duệ hiệu của các vị được phong Phúc thần, nếu thuộc hạng Thượng đẳng thì được tặng sáu chữ, Trung đẳng...(1) chữ. Còn như sắc mệnh truy phong giao cho nha môn chuyển về cho các nơi có đền thờ. Đồng thời sai quan đốc cử người về tận các xã, xây dựng miếu thờ tại bản xã. Mỗi xã (có trung thần tiết nghĩa) xây một miếu thờ... gian hai chái có tường bao quanh và cổng ra vào đều xây bằng gạch, ngói. Còn như lễ vật để tế đầu xuân hàng năm giao cho quan huyện sở tại, chiếu theo lệ định phân bổ. Các con cháu thuộc hàng chính phái (của trung thần tiết nghĩa) người nào có tài năng, đức hạnh, hoặc cho vào trường Giám (làm Giám sinh) hoặc cho đi học, ghi vào danh sách để chờ dịp bổ dụng.

Nếu như trong hàng chính phái trừ những người đã được vào danh sách (như đã nêu trên), ngoài ra việc thờ phụng thì đối với các bậc tiết nghĩa, không kể là chức cao hay thấp, phẩm cấp thứ bậc thuộc hạng người nào, cứ lấy chí khí và việc làm hiện tại để mà biểu dương danh thơm. Vâng theo như vậy để luận xét thì hễ là bầy tôi tiết nghĩa đều xứng đáng được phong là Phúc thần theo các thứ bậc khác nhau và ban cho đền thờ cùng tên hiệu là đền Tiết nghĩa. Người nào theo vua mà tử tiết theo nghĩa được phong làm Thượng đẳng thần. Người nào giữ tiết trung mà chết thì phong vào bậc Trung đẳng thần.

Những người như: Vũ Duệ, Ngô Hoán, Nguyễn Mẫn Đốc theo vua mà chết vì nghĩa phong làm bậc Thượng đẳng thần. Những người như Nguyễn Thiệu Tri, thời gian ấy (lúc họ Mạc giành vương quyền) đã về nghỉ hưu, tuổi đã chín mươi, nghe tin con trai nhận chức tước của nguỵ Mạc, đã không cho làm con thừa tự, lập di chúc giao cho con trai thứ đảm nhiệm việc thờ tự, đang đêm hướng về Lam Sơn vọng bái rồi tự vẫn. Đàm Thuận Huy, nhận được mật chiếu (của vua Lê) đem theo hương binh cự chiến (với quân Mạc), ít lâu sau liệu thế không thắng nổi bèn rút về huyện Yên Thế, về nhà uống thuốc độc mà chết. Lê Tuấn Mậu nhận chiếu chỉ, dùng đao tự vẫn. Nguyễn Duy Tường đem hương binh cố thủ không chịu hàng phục mà chết. Nguyễn Tự Cường, đem quân kháng cự, sau này liệu thế không đánh được, đem quân lui vào huyện Yên Thế, về nhà đóng cửa dùng kiếm tự vẫn. Năm viên ấy tuy không trực tiếp theo đại quân (đánh Mạc) mà chết vì nghĩa, đều được nêu cao khí tiết nên phong làm Thượng đẳng thần. Còn lại: Lê Vô Cương, Nguyễn Hữu Nghiêm, Lại Kim Bảng, Nguyễn Thái Bạt, Nghiêm Bá Ký là những người giữ tiết chết vì trung nghĩa nên phong làm Trung đẳng thần.

Sắc mệnh phong tặng duệ hiệu, ghi danh vào điển lễ, và đền miếu theo đúng như khoản này.

Lễ vật chuẩn chuyển giao cho quan huyện sở lại căn cứ vào dân xã (có người được phong Phúc thần) mà phân bổ theo lệ thờ thần.

Con cháu (các bậc tiết nghĩa), có tài năng đức hạnh, có thể làm việc công nên giao cho Bộ Lại chiểu theo lệ định mà ra sắc bổ nhiệm. Còn như các hạng con cháu còn lại thì bản xã đưa vào danh sách con cháu tiết nghĩa để khích lệ phong tục.

Nay chúng thần kính tâu!

Thứ nhất: Tám viên xứng đáng được phong làm Thượng đẳng thần.

1. Vũ Duệ 武 睿

- Quê ở xã Trình Xá, huyện Sơn Vi(2), thi đỗ Trạng nguyên khoa thi năm Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490). Làm quan tới chức Thượng thư Bộ Lại. Ngày Hoàng đế Quang Thiệu (Lê Chiêu Tông 1516-1522) chạy ra khỏi kinh thành, đã đem hương binh cố thủ, các quan tiết nghĩa đều theo, biết thế không chống được bèn chạy theo Hoàng đế về đến Lam Sơn Thanh Hoá, bái lạy miếu đường rồi chết. Quốc triều luận công tiết nghĩa có sắc ban cho xếp vào hạng nhất.

2. Nguyễn Thiệu Tri 阮 紹 知

- Người xã Xuân Lôi, huyện Lập Thạch(3), thi đỗ Đồng Tiến sĩ khoa thi năm Mậu Tuất (1478) niên hiệu Hồng Đức triều vua Lê Thánh Tông, làm quan tới chức Thượng thư Bộ Hộ. Năm ấy đã 90 tuổi, con trai cả là Nguyễn Tông theo nguỵ Mạc được phong làm Đô đốc. Thiệu Tri lấy em Nguyễn Tông di chúc cho được thờ tự và từ Nguyễn Tông không nhận làm con nữa, sau này mất đi không được cúng lễ tại nhà thờ. Ông đến nhà thờ bái vọng về Lam Sơn mà tự vẫn.

3. Ngô Hoán 吳 煥

Người xã Thượng Đáp, huyện Thanh Lâm(4), thi đỗ Bảng nhãn khoa thi năm Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (Lê Thánh Tông -1490), làm quan tới chức Thượng thư Bộ Lại, Hoàng đế Quang Thiệu rời khỏi thành (Thăng Long), ông chạy theo sang Ai Lao (nước Lào ngày nay), mất ở đó.

4. Đàm Thận Huy 譚 慎 徽

Người xã Hương Mặc, huyện Đông Ngàn(5), thi đỗ Đồng Tiến sĩ khoa thi năm Canh Tuất -1490, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (triều vua Lê Thánh Tông) làm quan tới chức Thượng thư Bộ Lễ, khi Hoàng đế Quang Thiệu chạy ra khỏi thành Thăng Long, nhận được mật chiếu của vua, ông đem hương binh cố thủ, những người tiết nghĩa nhiều người đi theo, về sau liệu thế không chống được (quân Mạc) bèn rút về huyện Yên Thế uống thuốc độc tự tử.

5. Lê Tuấn Mậu 黎 俊 茂

Người xã Thuỵ Lôi huyện Yên Lãng(6), thi đỗ Chánh Tiến sĩ khoa thi năm Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (Lê Thánh Tông 1490), làm quan tới chức Đô Ngự sử. Ông cùng Đàm Thận Huy nhận mật chiếu đem hương binh chống cự (nhà Mạc), không chịu khuất phục mà chết.

6. Nguyễn Duy Tường 阮 維 祥

Người xã Lí Hải, huyện Yên Lãng(7), thi đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh thứ 4 (Lê Uy Mục -1508), làm quan tới chức Tham chính, khi Hoàng đế Quang Thiệu rời khỏi thành (Thăng Long), ông đem hương binh cố thủ, bất khuất (với quân Mạc) mà chết.

7. Nguyễn Tự Cường 阮 自 彊

Người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn (Bắc Ninh), thi đỗ Chánh Tiến sĩ khoa thi năm Giáp Tuất niên hiệu Hồng Thuận thứ 6 (Lê Tương Dực - 1514), làm quan tới chức Hiến sát sứ. Hoàng đế Quang Thiệu rời thành (Thăng Long), ông theo Đàm Thuận Huy đem quân kháng cự (quân Mạc), đánh nhau ở vùng Đình Bảng, nơi phát tích 8 vua nhà Lý. Nhiều văn thần đồng mưu (đánh Mạc) nhưng về sau liệu thế không đánh nổi về nhà ở huyện Yên Thế, đóng cửa tự vẫn.

8. Nguyễn Đốc Mẫn 阮 篤 敏

Người xã Xuân Lũng, huyện Sơn Vi(8), thi đỗ Bảng nhãn khoa thi Mậu Dần niên hiệu Quang Thiệu thứ nhất (Lê Chiêu Tông - 1516). Làm quan tới chức Thị thư. Khi Hoàng đế Quang Thiệu rời thành Thăng Long, ông theo quân của Vũ Duệ theo vua, các quan tiết nghĩa phần lớn đi theo vua. Quan quân đến địa giới xứ... vào trú ở một quán trọ, nhiều người nhớ nhà (muốn về), Mẫn Đốc(9) mắng rằng: "Loài chó ngựa không thể ở cùng, có kẻ nào muốn bỏ đi thì liệu mà rời khỏi đây cho sớm". Ông giữ vững khí tiết theo vua đến Thanh Hoá thì bị chết.

Thứ hai: năm viên xứng đáng được phong làm bậc Trung đẳng thần.

1. Lê Vô Cương 黎 無 疆

Người xã Thiên Biều, huyện Yên Lãng(10), thi đỗ Đồng Tiến sĩ khoa thi năm Tân Mùi niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 (Lê Tương Dực -1511) làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Lễ. (Khi Mạc Đăng Dung đảo chính) ông chạy theo Hoàng đế Quang Thiệu (Lê Chiêu Tông) bị (quân Mạc) truy bắt mà chết.

2. Nguyễn Hữu Nghiêm 阮 有 嚴

Người xã Thọ Khê, huyện Đông Ngàn(11), thi đỗ Thám hoa năm Mậu Thìn niên hiệu Đoan Khánh thứ 4 (Lê Uy Mục -1508) làm quan tới chức Thị thư. Hoàng đế Quang Thiệu chạy ra khỏi thành (Thăng Long). Ông cùng với Đàm Thận Huy cố thủ bị (người Mạc) bắt mà chết.

3. Lại Kim Bảng 賴 金 榜

Người xã Kim Dược, huyện Cẩm Giàng(12), thi đỗ Hoàng giáp năm Mậu Dần niên hiệu Quang Thiệu thứ 3 (Lê Chiêu Tông - 1518) làm quan đến chức Hiến sát sứ, ông chạy theo vua, mỗi lần lo được bữa ăn, vua tôi trên dưới cùng chia đều mà ăn, sau bị (quân Mạc) truy bắt mà chết.

4. Nguyễn Thái Bạt 阮 泰 拔

Người xã Bình Lãng, huyện Cẩm Giàng(13), thi đỗ Chánh Tiến sĩ khoa thi năm Canh Thìn niên hiệu Quang Thiệu thứ 5 (Lê Chiêu Tông - 1520) làm quan ở Viện Hàn lâm, khi Hoàng đế (Chiêu Tông) chạy ra khỏi thành Thăng Long ông đi theo vì tiết nghĩa mà chết.

5. Nghiêm Bá Ký 嚴 伯 驥

Người xã Lương Cầm, huyện Yên Phong (Bắc Ninh) là người có tài lực trong thôn, được phong tước Bình Hồ. Khi Hoàng đế Quang Thiệu chạy ra khỏi thành (Thăng Long), ông nhận được mật chiếu đem quân chống giữ (với quân Mạc) nhiều viên quan cùng đồng mưu, về sau liệu thế không thắng được, lui về huyện Yên Thế mà chết.

Các con cháu về sau, người nào có tài năng, đức hạnh thì được ghi danh giao cho quan Ngự sử và Bộ Lại chiếu theo lệ định mà bổ nhiệm. Các hạng còn lại thì giao cho các xã ấy ghi chú vào hạng "tôn nhiêu" của các bậc tiết nghĩa, được miễn trừ việc công dịch.

Vũ Duệ: chính phái hai người là Vũ Kiêu và Vũ Hạ. Đàm Thận Huy: chính phái hai người. Nguyễn Thiệu Tri: chính phái hai người. Lê Tuấn Mậu: chính phái hai người. Nguyễn Duy Tường: chính phái hai người. Nguyễn Tự Cường: chính phái hai người. Nguyễn Đốc Mẫn: chính phái hai người. Lê Vô Cương: chính phái hai người. Nguyễn Nghiêm: chính phái hai người. Lại Kim Bảng: chính phái hai người. Nghiêm Bá Ký: chính phái hai người.

Còn lại như Ngô Hoán không có con cháu, vì vậy chúng thần tâu được đội ơn xem có ai thì chuẩn sung vào nha môn. Nay bọn thần nêu các việc tâu lên đầy đủ để (Thánh thượng) biết và chờ ban sắc cùng thánh chỉ(14). Ngày 14 tháng 11 niên hiệu Cảnh Trị thứ 4 triều Lê Huyền Tông (1666) ban tặng thơ khen như sau(15).

Đối chiếu với chính sử và các sách viết về khoa bảng trong lịch sử và văn bia Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội, thân thế sự nghiệp và sự tuẫn tiết của 13 vị ghi trong bản tấu chép trong gia phả họ Lê là chính xác. Đây là tư liệu minh xác cho chính sách hậu đãi công thần của nhà Lê nhằm tôn vinh khích lệ và đề cao lòng trung quân của những bậc trung thần thời ấy. Chắc chắn rằng bản tâu này được phê chuẩn vì thực tế ở huyện Đông Anh có hai vị phúc thần là Lê Vô Cương và Lê Tuấn Mậu thì đền thờ Lê Tuấn Mậu hiện vẫn còn giữ được khá nguyên vẹn, xây bằng gạch ngói như trong bản tâu đề nghị.

 

Chú thích:

(1). Chữ trong bản gốc bị mờ không còn đọc được nên để dấu (...)

(2). Nay là thôn Trình Xá xã Vĩnh Lại huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ.

(3). Nay là xã Xuân Lôi huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc.

(4). Nay là thôn Thượng Đáp xã Nam Hồng huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương.

(5). Nay là thôn Hương Mặc (Me) xã Hương Mặc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.

(6). Nay là thôn Thuỵ Lôi xã Thuỵ Lâm huyện Đông Anh thành phố Hà Nội.

(7). Nay là thôn Lý Hải xã Phú Xuân huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc.

(8). Nay là xã Xuân Lũng huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ.

(9). Ở phần trên chép là Nguyễn Đốc Mẫn, đến đây lại chép là Mẫn Đốc, sách Các nhà khoa bảng Việt Nam giới thiệu là Nguyễn Mẫn Đốc.

(10). Nay thuộc thôn Bầu xã Kim Chung huyện Đông Anh thành phố Hà Nội.

(11). Nay là thôn Thọ Khê xã Đông Thọ huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh.

(12). Nay thuộc thôn Kim Quan xã Kim Giang huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương.

(13). Nay là thôn Thu Lãng xã Ngọc Liên huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương.

(14). Danh sách con cháu được vào hạng "tôn nhiêu" không thấy chép Nguyễn Thái Bạt, phải chăng là người sao chép bỏ sót?

(15). Phần tiếp theo mỗi vị thần tiết nghĩa được ban tặng một bài thơ khen ngợi, vì dung lượng của bài viết đã dài xin hẹn bài sau chúng tôi giới thiệu đầy đủ các bài thơ này.

(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.571-580)

In