Nghiên cứu Hán Nôm >> Tổng mục lục
51 . Đồng Khánh địa dư và việc bóc tách các lớp địa danh triều Nguyễn (TBHNH 1998)

Cập nhật lúc 18h16, ngày 26/09/2007

ĐỒNG KHÁNH, ĐỊA DƯ VÀ VIỆC

BÓC TÁCH CÁC LỚP ĐỊA DANH TRIỀU NGUYỄN

NGÔ ĐỨC THỌ

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

1. Để thực hiện chủ quyền quốc gia trên toàn lãnh thổ, các nước trên thế giới nói chung đều thực hiện quản lý nhà nước theo một hệ thống địa danh bao gồm những địa danh có tính pháp định và những địa danh do người địa phương quen dùng. Địa danh nói chung bao gồm cả tên núi, tên sông, tên cầu đường, bến đò, cửa biển, các trạm tuần tra kiểm soát v.v… Nhưng đặc biệt quan trọng là hệ thống địa danh hành chính gắn liền với từng vùng lãnh thổ do nhà nước hoạch định. Tuy nhiên, do sự hình thành mới của các khu dân cư, các khu vực sản xuất nông lâm ngư nghiệp – nói chung là do sự phát triển của kinh tế, văn hóa và do yêu cầu khác của chính trị, quân sự v.v.., sau một thời gian nhất định những đơn vị hành chính đó thường có những thay đổi hoặc hoạch định lại. Sự thay đổi càng nhiều, thời gian dồn lại càng lâu xa thì việc nghiên cứu xác định các địa danh trong lịch sử càng trở nên khó khăn, phức tạp.

Không ngoài thông lệ chung, các lớp địa danh trong lịch sử nước ta trải qua các triều đại từ Ngô, Đinh, Tiền Lê… cho đến triều Nguyễn cũng đã thay đổi rất nhiều lần. Từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay mới hơn 50 năm mà các địa danh cũng nhiều thay đổi. Còn phải kể thêm các lần sửa đổi địa danh ở các tỉnh Bắc Bộ và Nam Bộ dưới thời Pháp thuộc và các tỉnh miền Nam dưới thời chính quyền Sài Gòn.

Tình hình đó khiến cho việc nghiên cứu lịch sử chung của dân tộc cũng như lịch sử các địa phương, các chuyên ngành (kể cả chuyên ngành quân sự học, lịch sử ngoại giao v.v…) gặp rất nhiều khó khăn. Khi gặp các địa danh cổ xưa, ngôài một số ít được biết chính xác hoặc may mắn tra cứu được, người nghiên cứu phần nhiều đành chịu bỏ trống việc xác định địa danh.

Vì lý do đó, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài từ trước đến nay đã có những cố gắng bền bỉ có thể phát biểu trên các tạp chí khoa học, trong các công trình liên quan về một hoặc một số vấn đề địa danh học Việt Nam. Gần đây cũng đã xuất hiện một vài cuốn như Từ điển địa danh Hà Nội hoặc Sổ tay địa danh Việt Nam. Những sách như vậy nói chung rất có ích cho công việc chung, nhưng một mặt khác nói lên sự cần thiết phải có một công trình khoa học ở tầm cỡ quốc gia mới có thể đáp ứng được yêu cầu tra cứu hiện nay cũng như cho nhiều thế hệ sau nữa. Chúng ta đang cố gắng làm tất cả những gì để gìn giữ truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng không có một vấn đề nào của nó lại không gắn liền với hai đối tượng là đất nước con người. Tôi nghĩ rằng tất cả những gì có thể làm được, qua nghiên cứu để đi đến những nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn, sâu sắc và khoa học hơn về 2 đối tượng đó đều là hết sức cần thiết để thực hiện đường lối xây dựng văn hóa như Nghị quyết 5 của TƯ Đảng đã định hướng. Vì vậy tôi rất tán thành chủ trương của Viện trong thời gian tới sẽ tổ chức biên soạn Từ điển địa danh Việt Nam như đã được nêu lên trong lời phát biểu của Tân Viện trưởng và hy vọng việc chuẩn bị sớm hoàn tất để có thể bắt tay thực hiện công trình.

2a. Hiện nay có thuận lợi là Viện ta đang thực hiện công trình dịch chú để xuất bản bộ sách Đồng Khánh ngự lãm địa dư chí.

Đồng Khánh ngự lãm địa dư chí (ĐKĐD) là một công trình địa lý học rất đồ sộ và có giá trị nhiều mặt, nhưng đến nay chúng ta mới có điều kiện tổ chức dịch thuật, chú giải và sẽ chính thức xuất bản lần đầu cùng với toàn văn chữ Hán và đầy đủ 314 bản đồ màu. Học giả Việt Nam chú ý sớm nhất và khai thác rất có hiệu quả ĐKĐD thì phải kể đến Nguyễn Văn Huyên trong cuốn Địa lý hành chính Bắc Ninh, nhưng sách này chỉ mới được công bố vào năm ngoái, trong khi đó thì GS Hà Văn Tấn hơn 30 năm trước đã tham khảo sử dụng nhiều tư liệu trong ĐKĐD trong khi thực hiện công trình chú giải Ức Trai Dư địa chí.

Năm 1970, trong cuốn Tìm hiểu kho sách Hán Nôm T.1, tuy không có mục riêng cho ĐKĐD nhưng cố học giả Trần Văn Giáp đã có một đoạn nói về sách này khi liên hệ với các tài liệu sau Đại Nam nhất thống chí. Trần Văn Giáp đã dẫn tư liệu trong Đại Nam thực lục ghi việc về tháng 4 năm Đồng Khánh thứ 2 (5-1887):

“疆 界 彙 編 書 成 ( 凡 七 卷 并 圖 一 幅 ) 准 董 理 黃 有 秤 實 授 吏 部 侍 郎 銜… 尋 准 有 秤 充 國 史 館 纂 修”

Cương giới vựng biên như thành (phàm thất quyển, tịnh đồ nhất bức). Chuẩn Đổng lý Hoàng Hữu Xứng thực thụ Lại bộ thị lang hàm… Tầm chuẩn Hữu Xứng sung Quốc sử quán toản tu/ Sách Cương giới vựng biên làm xong (gồm 7 quyển và 1 bức vẽ bản đồ). Chuẩn cho Đổng lý Hoàng Hữu Xứng được thực thụ hàm Thị lang bộ Lại… Sau chuẩn cho Hững Xứng làm Toản tu Quốc sử quán” (Đệ lục kỷ, q.6) Không thấy nói gì thêm về việc Sử quán biên soạn sách ĐKĐD. Nhưng sau khi hoàn thành bộ Đại Nam cương giới vựng biên, cả Hoàng Hữu Xứng và tập thể biên soạn được ban thưởng như Thục lục đã ghi, Hoàng Hữu Xứng được sung chức Toản tu ở Sử quán thì việc Hoàng Hữu Xứng được giao trách nhiệm thực hiện công trình này là một điều hợp lý. Công trình biên soạn này, như tên sách đầy đủ được ghi đầu mỗi tập là: 同 慶 敕 製 御 覽 地 輿 志 Đồng Khánh sắc chế…, nghĩa là vua Đồng Khánh sai làm, tức là một công việc rất quan trọng, nhưng Thực lục, bỏ sót không ghi thì phải coi là một thiếu sót. Nhưng lúc đó bộ sách chỉ mới được giao nhiệm vụ biên soạn, và theo cách chép Thực lục có thể nghĩ rằng đến khi sách hoàn thành sẽ truy ghi các chi tiết về sự khởi đầu. Nhưng bấy giờ là thời buổi “quốc phá gia vọng”, nhưng trang cuối cùng của bộ Thực lục triều Nguyễn cũng khép lại vào giai đoạn này. Sau đó các sách vở giấy tờ của triều đình thất tán mất mát dần, mười phần không còn một, thì nhưng chỉ dụ, tấu văn, thư khải liên quan đến bộ sách này tuy vẫn còn hy vọng phần nào nhưng cũng rất ít khả năng tìm lại được.

Nguyên bản chép tay ĐKĐD gồm 27 tập được lưu trữ tại Nội các triều Nguyễn. Chính với nguyên bản đó mà khoảng những năm đầu thế kỷ XX (chưa rõ chính xác vào năm nào), Viện Viễn Đông Bác cổ tại Hà Nội đã được phép mượn tổ chức sao chép ra bản A.577 hiện lưu giữ tại Viện Hán Nôm nhưng chúng ta đã biết. Còn số phận bản gốc của triều đình Huế như thế nào thì hiện còn chưa rõ. Tuy nhiên quâ thông tin mà tôi theo dõi được bản ấy vẫn được an toàn trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến 1947 mà đến năm 1967 vẫn hiện diện ở Đà Lạt: Đó là năm Tiến sĩ Muriel Texier đã được đọc nó trong kho tài liệu của triều đình Huế do chính quyền Sài Gòn di chuyển từ Huế vào(1). Không rõ nó có bị mất mát trong các lần di chuyền từ 1975 đến nay hay còn được lưu giữ ở đâu đó mà chúng tôi chưa được biết. Có lần, nghe có tin ĐKĐD hiện diện ở Ôxtralia, bằng con đường thư điện tử trên Internet, tôi đã liên hệ hỏi Tiến sĩ Andrew Goseling và đã có phúc đáp là ở Ôxtralia không có sách ấy. Trong khi chờ đợi, tôi mong quý vị gần xa mách bảo cho những tin tức nếu có về bộ bản gốc sách này.

Học giả nước ngoài thì sau các nhà nghiên cứu ở VĐBC đến các học giả Nhật Bản. Từ năm 1933 (Chiêu Hòa 8) người phụ trách Đông Dương văn khố (Toyo Bunko) ở Tokyo Nhật Bản, qua các bài viết của Matsumoto, đã biết được những thông tin về bộ sách mà họ lập tức đánh giá ngay là “có vai trò cực kỳ quan trọng” này. Qua nhiều liên hệ với E.Gaspardone, Codès, cuối cùng đến năm Chiêu Hòa 13 (1938) họ đã thực hiện được việc nhờ một số người thạo việc tại Hà Nội sao chép cho đầy đủ một bản sao ĐKĐD từ bản A.577. Riêng về phần các bản đồ thì việc sao chép có thể là không được thành công lắm, cho nên họ đã phải trở lại Hà Nội để đề nghị cho chụp ảnh bằng bản kính. Bản kính chụp tốt, nhưng vì kỹ thuật đương thời không chụp được ảnh màu, nên người Nhật vẫn rất lấy làm tiếc về việc đó. Vài năm sau khi Toyo Bunko có được bản sao, họ đã tính đến việc xuất bản nguyên văn ĐKĐD. Và 2-1945, chỉ mấy tháng trước khi kết thúc chiến tranh thế giới lấn thứ II bộ ĐKĐD đã được xuất bản bằng nguyên văn tại Tokyo. Riêng các bản đồ được tách sthành phần riêng gồm 2 sách (Thượng, Hạ), khổ 20 x 24cm, chữ trong bản đồ chụp lên khá rõ, nhưng một số bản bị nhòe mờ, soi kíp lúp rõ hơn, nhưng cũng khá khó khăn, đó là do hạn chế kỹ thuật đương thời.

2b. Về thời điểm biên soạn của ĐKĐD:

Thoạt đọc qua tên sách dễ nghĩ ngay là sách được làm xong hẳn trong đời vua Đồng Khánh (1886-1888). Nhưng nếu tính từ tháng 4 năm Đồng Khánh 2 (5-1887), nghĩa là từ khi HHX được điều về làm Toản tu ở Quốc sử quán, cho đến ngày Đồng Khánh mất (18-1-1888) thì thời gian chỉ có chưa đầy 8 tháng: Một thời gian ngắn ngủi như vậy, không ai có thể làm xong được một bộ sách đồ sộ như ĐKĐD. (Trước đó, trong bài biểu dâng sách và cả trong sách Đại Nam cương giới vựng biên không thấy nói đến một bản thảo nào có thể liên hệ xa xôi với ĐKĐD). Đối với một bộ sách như ĐKĐD việc tổ chức biên soạn không thể nào đơn giản được: Sau khi nhận sắc chỉ của vua giao nhiệm vụ biên soạn tất phải tiến hành hàng loạt công việc như soạn thảo quy tắc chung, thông báo cho giao việc cho các quan đầu tỉnh kê khai phần của tỉnh mình theo các biểu mẫu quy định thống nhất cho tất cả 26 tỉnh từ Bình Thuận đến Cao Bằng v.v.. Các quan tỉnh muốn soạn được bản khai đó không thể không họp bàn với các quan phủ huyện để có các bản khai từ cấp dưới lên, tổng hợp tu chỉnh rồi mới gửi về triều đình. Ban biên soạn tại Quốc sử quán tất phải kiểm tra để bổ sung, chính lý tư liệu, tu chỉnh văn phòng cho nhất quán v.v… Phần chính văn đã khá phức tạp, lại còn việc biên vẽ các bản đồ v.v… Nói tóm lại với lượng công việc mà chúng ta có thể hình dung ra phần nào, cho dù số người tham gia chính phụ có đông đến vài chục người, công việc cũng không thể làm xong trong dăm bảy tháng được. Và như vậy có nhiều khả năng có thể khẳng định vua Đồng Khánh chưa bao giờ được “ngự lãm” bộ sách sẽ mang niên hiệu của ông. Khả năng thuận lợi nhất mà ta đã kịp trình lên cho ông được một vài tập nào đó may mắn đã có chuẩn bị từ trước. Nhưng khả năng này rất mong manh nếu không muốn loại bỏ hẳn đi. Vả lại, ngay cả ngày nay chăng nữa, nếu có một bộ sách như vậy thì cũng phải soạn thảo hoàn chỉnh rồi mới trình lên cấp cao, chứ không phải tiện đâu dâng đấy được. Nếu vua Đồng Khánh không chết sớm thì mấy chữ “Đồng Khánh sắc chế ngự lãm…” sẽ được hiểu là “vua Đồng Khánh sai làm và đích thân ngự lãm”, nhưng vì lý do nói trên, nên hiều là: Vua Đồng Khánh sai làm để ngự lãm (hoặc là… để vua ngự lãm). Hiểu (và dịch) thêm một chữ để thì mới khỏi hiểu lầm và hợp với thực tế: vua Đồng Khánh sai làm để xem, nhưng có thể chưa kịp xem. Toàn bộ ĐKĐD chỉ có thể hoàn thành sớm nhất là trong những năm đầu đời Thành Thái. Các chứng cớ chữ huý trên văn bản cũng cho thấy điều đó, như:

- Thôn Hội Vũ (會 武), tên cũ là thôn Chiêu Hội (@ @) sau năm 1890 kiêng chữ Chiêu @ (tên huý vua Thành Thái Nguyễn Phúc Chiêu) (x. NCCH, tr.159), đổi là thôn Hội Vũ.

- Thôn và xã Quang Chiêm (光 瞻): Từ đời Đồng Khánh trở về trước là xã Quang Chiêu (光 昭); sau năm 1890 kiêng huý vua Thành Thái đổi là Quang Chiêm. Văn bản ĐKĐD (T.14, Nghệ An tỉnh) tại vị trí này đã đổi thành Quang Chiêm. - Tổng Chân Lại huyện Tứ Kỳ phủ Ninh Giang chữ Chân 真 (đồng âm với chữ Chân, tên húy của cha vua Thành Thái) (膺 真) Ưng Chận, NCCH, tr.159) được chép bớt 1 nét bên phải 真  -> 真 (bớt 1 nét bên phải)

- Hoàng tử Trần Quốc Chẩn (陳 國 (王真)): Chữ Chẩn (王真) có thiên bàng chữ Chân (真),được chép bỏ phần trên, thành giống như chữ Kỳ (王真=>琪).

(Nhiều nơi khác chữ Chân Chiêu lại được viết nguyên dạng).

Điều đó cho thấy rằng bộ ĐKĐD được vua Đồng Khánh sai làm từ tháng 5-1887 và được hoàn thành trong khoảng thời gian từ đó cho đến mấy năm đầu đời Thành Thái.

3. Nói riêng đối với việc nghiên cứu địa danh Việt Nam, có thể coi ĐKĐD là một đầu cầu rất quan trọng. Những ai quan tâm đến đề tài này đều dễ nhận ra một điều là: các sách Đại dư chí trong di sản của chúng ta phần nhiều chỉ ghi đến cấp huyện. Những sách địa phương chí toàn quốc (hoặc miền) mà có ghi hệ thống địa danh đến cấp xã thôn thì vẻn vẹn chỉ có mấy cuốn. Cổ nhất mà văn bản hiện còn thì có Ô Châu cận lục của Dương Văn An cho ta một hệ thống địa danh đời Mạc của miền đất ngày nay thuộc ba tỉnh Bình Trị Thiên. Cả Lê sơ, Lê Trung hưng và triều Tây Sơn không có cuốn nào. Triều Nguyễn có cuốn Các trấn tổng xã danh bị lãm: tuy không phải là một sách Địa dư chí thực thụ, nhưng sách này cho ta một hệ thống địa danh hoàn chỉnh của các phủ huyện từ Nghệ An (bao gồm cả Hà Tĩnh) trở ra. Kế đến là Bắc Thành địa dư chí của Lê Chất cho ta địa danh của các tỉnh Bắc Thành đời Minh Mệnh. Rồi đến ĐKĐD. Tất cả chỉ có như vậy. Và tất nhiên chúng ta hiểu rõ những sách đó thật quan trọng trong vai trò làm bàn đạp để một mặt ngược dòng thời gian tìm đến các lớp địa danh triều Nguyễn và lên trước nữa; mặt khác, từ ĐKĐD chúng ta có điều kiện tiếp cận với các lớp địa danh hiện đại vào những năm đầu thế kỷ XX, khi bắt đầu có những bản đồ toàn quốc bằng tiếng Việt và tiếng Pháp.

3. Trong khi chưa lập đủ bảng tập hợp tất cả 26 tỉnh xuất phát từ hệ thống địa danh của ĐKĐD, chúng tôi kèm theo báo cáo này một bản thống kê tên xã thôn thuộc một tỉnh (Hải Dương cũ, bao gồm một số huyện xã của TP Hải Phòng nay) thay đổi vì lý do kiêng huý triều Nguyễn.

Qua thống kê này có thể nêu lên một số nhận xét như sau:

a/ Trong tổng số 115 tên xã thôn thay đổi trong triều Nguyễn, số thay đổi vì lý do kiêng huý là 72 trường hợp, chiếm tỷ lệ 63%. Tỷ lệ đó có thể lên xuống đối với cá tỉnh khác, nhưng qua đó cho chúng ta thấy có sự thuận lợi rất lớn trong việc vận dụng bảng chữ huý để nhận diện tên xã thôn thay đổi qua từng lớp địa danh.

b/ Trong số 72 xã thôn đổi tên vì lý do kiêng huý triều Nguyễn, thì:

- Số thay đổi vào đời Gia Long là ít nhất (1 chữ, 3 xã thôn) - Số 1-3 trong TKê.

- Số thay đổi vào đời Minh Mệnh nhiều hơn đời Gia Long chút ít (2 chữ, 4 xã thôn) Số 4-7 trong TKê.

- Số thay đổi vào đời Thiệu Trị là nhiều nhất (5 chữ, 34 xã thôn), chiếm đến gần 50% số xã thôn đổi tên. Điều này cũng phù hợp với nhận xét chung là lệ kiêng huý ở đời Thiệu Trị là phức tạp nhất. Số 8-42.

- Số thay đổi vào đời Tự Đức ít hơn đời Thiệu Trị, chiếm khoảng 30% trường hợp đổi tên vì kiêng huý. Số 43-67.

c/ Trong số thay đổi vì lý do khác, chúng ta có thể nhận ra một số trường hợp đổi tên vì lý do tu từ, như Máu Bộ (血(trên)卯(dưới) 部) đổi thành Châu Bộ (朱 部), Ỷ Khê 猗 溪 đổi thành Nha Khê (牙 溪); Thạch Cốt (石 骨) đổi làm Thạch Hào (石 豪) v.v… Nguyên nhân có nhiều, nhưng có đặc điểm chung là hầu hết người ta chỉ đổi một chữ, còn một chữ vẫn được giữ lại trong tên mới. Điều đó tạo một thuận lợi rất đáng kể cho người nghiên cứu xác định địa danh: Trong một vùng hẹp cùng huyện cùng tổng mà các xã liền kề phần lớn đã biết, thì việc nhận diện một xã thôn chỉ đổi khác 1 trong hai chữ là có thể xác định được. Cũng có trường hợp đổi hẳn cả hai chữ như Nam Triệu (南 兆) đổi thành Đường Sơn (堂 山), nhưng loại này tương đối ít gặp.

Trên đây là kết quả bước đầu của chúng tôi trong việc xuất phát từ hệ thống địa danh của ĐKĐD, vận dụng chìa khoá chữ huý để bóc tách và so sánh các lớp địa danh triều Nguyễn.

Chú thích:

1. Muriel Texier – Le mandarinat au Vietnam au XIX siècle BSEI, NS, XXXVII, 3-1962.- Dẫn theo: R.B. Smith: Sino – Vietnamese sources for the Nguyen period: anintroduction. Bulletin of the School of Orientan and Afican Studies, University of London. Vol. XXX. Part. 3, 1967. Bản dịch của Đỗ Văn Anh. S. Thư viện tập san, số 16-17, 1972.

 

THỐNG KÊ TÊN XÃ THÔN THUỘC TỈNH HẢI DƯƠNG

THAY ĐỔI VÌ LÝ DO KIÊNG HUÝ TRIỀU NGUYỄN

(ĐKĐD: Đồng Khánh địa dư chí)

(BTĐDC: Bắc Thành địa dư chí)

(CTTX: Các trấn tổng xã danh bị lãm)

 

TT

Chữ huý

Đd Đồng Khánh & Tự Đức (ĐKĐD)

Đ d Minh Mệnh

(BTĐD)

Đ d Gia Long

(CTTX)

1

LAN

Kim Quan

Kim Quan

Kim Quan/ < -- Lan

2

LAN

Quan Đình

Quan Đình

Quan Đình/ < -- Lan

3

LAN

Quan Khê

Quan Khê

Quan Khê/ < -- Lan

4

ĐẢM

Cổ Chẩm

Cổ Chẩm

Cổ Đam

5

CẢO

Nhật Tảo

Nhật Cảo

Nhật Cảo

6

CẢO

Lệ Tảo

Lệ Bạo

Lệ Cảo

7

CAN

Hu Trì

Cán Trì

Can Trì

8

HOA

Lương Đường

Hoa Đường

Hoa Đường

9

HOA

Phương Khê

Hoa Khê

Hoa Khê

10

HOA

Lai Phương Thượng

Lai Hoa Thượng

Lao Hoa Thượng

11

HOA

Lai Phương Hạ

Lai Hoa Hạ

Lai Hoa Hạ

12

HOA

Phương Đôi

Hoa Đôi

Hoa Đôi

13

HOA

Phương Điếm

Hoa Điếm

Hoa Điếm

14

HOA

Phương Bằng

Hoa Bằng

Hoa Bằng

15

HOA

Phương Xá

Hoa Xá

Hoa Xá

16

HOA

Phương Đường

Hoa Đường

Hoa Đường

17

HOA

Đông Phương

Đông Hoa

Đông Hoa

18

HOA

Phương Khê

Hoa Khê

Hoa Khê

19

HOA

Ngọc Chử

Hoa Chử

Hoa Chử

20

HOA

Phương Duệ

Hoa Duệ

Hoa Duệ

21

HOA

Phương Khê

Hoa Khê

Hoa Khê

22

HOA

Kiến Phong

Hoa Phong

Hoa Phong

23

HOA

Phương Quất

Hoa Quất

Hoa Quất

24

HOA

Phương Lưu

Hoa Lưu

Hoa Lưu

25

HOA

Phương Lăng

Hoa Lăng

Hoa Lăng

26

HOA

Phương Mỹ

Hoa Chương

Hoa Chương

27

TÔNG

Thị Tranh

Tông Tranh

Tông Tranh

28

TÔNG

Thị Đức

Tông Đức

Tông Đức

29

THỰC

Bảo Tượng

Thực Tượng

Thực Tượng

30

THỰC

Lạc Nghiệp

Lạc Thực

Lạc Thực

31

THỰC

Trực Trang

Thực Trang

Thực Trạng

32

TRIỀN

Lý Đông

Triền Đông

Triền Đông

33

TRIỀN

Lý Đổ

Triền Đổ

Triền Đổ

34

TRIỀN

Phạm Lý

Phạm Triền

Phạm Triền

35

TRIỀN

Lý Dương

Triền Dương

Triền Dương

36

TRIỀN

Hán Lý

Hán Triền

Hán Triền

37

TRIỀN

Anh Lý

An Triền

An Triền

38

TRIỀN

Vạn Hoạch

Vạn Tuyển

Vạn Tuyển

39

TUYỀN

Lãng Xuyên

Chương Tuyền

Chương Tuyền

40

TUYỀN

Ngọc Uyên

Ngọc Tuyền

Ngọc Tuyền

41

TUYỀN

Kim Xuyên

Kim Tuyền

Kim Tuyền

42

TUYỀN

Xuyên Đông

Tuyền Đông

Tuyền Đông

43

CHƯƠNG

Mậu Công

Chương Công

Chương Công

44

CHƯƠNG

Khuê Phương

Khuê Chương

Khuê Chương

45

HỒNG

Thanh Lục

Hồng Lục

Hồng Lục

46

HỒNG

Đông Lục

Đông Hồng Lục

Đông Hồng Lục

47

HỒNG

Lạc Thị

Hồng Thị

Hồng Thị

48

HỒNG

La Giang

La Hồng

La Hồng

49

THÌ

Tuyển Cử

Thì Cử

Thì Cử

50

THÌ

Hiếu Hội

Hảo Thì

Hảo Thì

51

THÌ

Mỹ Ngọc

Thì Ngọc

Thì Ngọc

52

THÌ

Thịnh Vạn

Thì Vạn

Thì Vạn

53

THÌ

Hoà Ung

Thì Ung

Thì Ung

54

ĐOAN

Thụy Trang

Đoan Trang

Đoan Trang

55

ĐOAN

Thụy Xuyên

Đoan Xuyên

Đoan Xuyên

56

KÍNH

Dương Nham

Kính Chủ

Kính Chủ

57

THIÊN

Đại Lộc

Thiên Lộc

Thiên Lộc

58

VƯƠNG

An Xá

Vương Xá

Vương Xá

59

NGUYỄN

Thọ Xuyên

Nguyễn Xuyên

Nguyễn Xuyên

60

NGUYỄN

Tứ Xá

Nguyễn Xá

Nguyễn Xá

61

NGUYỄN

Cẩm Khê

Nguyễn Khê

Nguyễn Khê

62

NGUYỄN

Linh Xá

Nguyễn Xá

Nguyễn Xá

63

NGUYỄN

Phúc Giới

Nguyễn Xá

Nguyễn Xá

64

NGUYỄN

Vĩnh Xuyên

Nguyễn Xuyên

Nguyễn Xuyên

65

NGUYỄN

Mỹ Xá

Nguyễn Xá

Nguyễn Xá

66

NGUYỄN

Vụ Nông

Bắc Nguyễn

Bắc Nguyễn

67

NGUYỄN

Vụ Bản

Nguyễn Xá

Nguyễn Xá

68

BÌNH

Bằng Trai

Bình Tề

Bình Tề

69

BÌNH

Bằng Đê

Bình Đê

Bình Đê

70

BÌNH

Bằng Cách

Bình Cách

Bình Cách

71

BÌNH

Bằng Dã

Bình Dã

Bình Dã

72

BÌNH

Bằng Quân

Bình Quân

Bình Quân

Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.399-410)

In
Lượt truy cập: