TB

NHỮNG DÒNG THƠ THIỀN CHỨA CHAN
TÌNH ĐỜI, TÌNH NGHĨA CỦA CƯ SĨ THIỀU CHỬU

TẢO TRANG

"Thế kỷ này đã được hai năm.”

Nhà đại thi hào kiêm đại văn hào nước Pháp Victor Hugo đã mở đầu bài thơ nổi tiếng “Thế kỷ này đã được hai năm” (ce siècle avait deur ans) để ghi lại năm sinh của mình. Câu thơ có thể áp dụng cho đời sống Cư sĩ Thiều Chửu (1902 - 1954), nên hiểu thế kỷ này là thế kỷ XX, không phải là thế kỷ XIX như đối với Victor Hugo.

Dĩ nhiên về mặt văn nghiệp và đời sống, hai người khác hẳn nhau, nhưng có thể nói hai người có chỗ gặp nhau ở lý tưởng nhân bản, nhằm phục vụ hạnh phúc con người. Phương tiện dùng để thực hiện lý tưởng có khác. Victor Hugo dùng sáng tác văn học. Còn ở Thiều Chửu, phần hoạt động văn học chỉ là thứ yếu. Ông đã đem cả cuộc đời dành cho lý tưởng, không nghĩ tới mình, từ bỏ mọi thú vui cá nhân, thú vui đời thường không vợ con, nhưng từ nhỏ đã chú ý việc giúp đỡ gia đình, đến tuổi trưởng thành nguyện theo đạo Phật, dành cả cuộc đời cho việc “hoằng pháp cứu nhân”. Có thể nói Thiều Chửu chủ yếu là một người hoạt động xã hội, ngay từ những buổi đầu gắn đời mình vào lý tưởng Thích Ca. Ông mở hiệu sách lập xưởng in nhỏ để giải quyết vấn đề kinh tế cho gia đình người em thất nghiệp, đồng thời in kinh Phật do ông dịch và bán rẻ giấy bút cho học trò ở trường Sinh Từ (nay ở phố Nguyễn Khuyến). Tiếp đó, ông đã tham gia thành lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ, hiến máy in của mình cho Hội để in báo Đuốc Tuệ, được Hội tín nhiệm cử tham gia việc xây dựng trụ sở Hội (tức chùa Quán Sứ ngày nay), quản lý, biên tập, trông nom việc in ấn, viết bài cho báo Đuốc Tuệ. Chỉ là Cư sĩ, nhưng được các Tăng ni tự nguyện đến xin học. Ông còn tham gia thành lập Hội Tế sinh giúp đỡ người nghèo, Hội Truyền bá quốc ngữ và nhiều Hội khác. Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông đã dẫn cả một đoàn gồm một số Tăng ni và trẻ em mồ côi trong lớp ông phụ trách đi tản cư, qua nhiều địa điểm phải luôn biến động chuyển dịch để tránh sự càn quét của quân địch, nhưng ở đâu ông cũng được lãnh đạo và nhân dân địa phương cho mượn đất để tăng gia. Với óc tổ chức tuyệt vời cộng với đời sống gương mẫu mọi mặt của ông, mọi gian lao đều được ông vượt qua. Việc sản xuất đã có hiệu quả, vừa tự nuôi sống cả đoàn, vừa bảo đảm nghĩa vụ đóng góp vào công cuộc kháng chiến, mà vẫn không lơ là buông lơi trong việc giảng dạy, thúc đẩy việc tu dưỡng học tập của toàn đoàn. Hoạt động xã hội bận rộn nhiều mặt như vậy, ông vẫn không quên việc dạy học và viết lách. Có lẽ đối với ông, việc dịch kinh, viết báo, viết sách chỉ là nhằm hỗ trợ, chỉ là phương tiện cho hoạt động xã hội. Gần đây hậu duệ của ông, nói thật đúng là hai người cháu gọi ông là chú ruột (vì ông sống độc thân suốt đời) đã cho in cuốn Tài liệu tham khảo về Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha (viết tắt là TLTC) có sơ bộ thống kê các tác phẩm của Thiều Chửu ghi được 61 đơn vị, đại bộ phận là sách dịch kinh Phật, chỉ có 14 cuốn thuộc loại sáng tác trong đó có cuốn “Sự tích Phật Tổ diễn ca” theo thể văn vần. Cũng trong tài liệu nói trên, có mục “Một số bài thơ ca do Thiều Chửu sáng tác” (tr.17-22, Phần hai) gồm 22 bài.

Ban biên tập cuốn TLTC cho biết trừ 2 bài rút từ Tự bạch của Thiều Chửu và mấy bài được chép trong sổ tay của em ruột ông, còn đều là được ghi lại theo trí nhớ của 3 vị đệ tử của Cư sĩ. Ngoài 22 bài trên, người viết bài này còn được Tiến sĩ Nguyễn Hải Hoành đọc cho ghi thêm 5 bài nữa cộng với 2 bài đưọc in ở cuối cuốn “Con đường học Phật ở thế kỷ XX” Tổng cộng là 29 bài và thêm cuốn “Sự tích Phật Tổ diễn ca” đã được in, là tất cả di sản thơ ca hiện có của Thiều Chửu. Cũng theo tài liệu trên: “Thiều Chửu có tài xuất khẩu thành chương, sinh thời làm rất nhiều thơ ca, câu đối nhưng ông không ghi lại hoặc in ra”. Sở dĩ thơ của ông không được ghi lại hay đưa in, không phải là ông coi thường việc này, mà vì ông còn bận rộn về nhiều việc khác và phần lớn những bài thơ được làm cốt để được truyền trực tiếp tới các đệ tử của ông. Do đó mặc dầu số lượng có hạn và đôi khi có nghi vấn về mặt chính xác, chúng vẫn có nhiều giá trị, đã ghi lại khá rõ nét tâm tư tình cảm sâu lắng của một người đã toàn tâm toàn ý dành tất cả cuộc đời cho công cuộc “hoằng pháp cứu nhân” gắn liền với tinh thần yêu nước thương nòi.

Bài thơ của cậu bé 13 tuổi.

Theo Tự bạch của Thiều Chửu, năm 1915, ông có lần đi qua làng Mọc, nơi có khu lăng mộ của Lê Hoan. Cậu bé từ nhỏ được bà nội dạy cho học chữ Hán, lại được sống cạnh người cha là một nhà nho giàu tinh thần yêu nước, nghe nhiều chuyện về phong trào khởi nghĩa chống Pháp và sự đàn áp tàn khốc của bọn thực dân nên đã có bài thơ như sau:

“Thanh thần điếu cửu nguyên
Chủng chủng u tình huyên
Thế thái cạnh phú quý
Nhân tình xu ngân tiên
Công cừu bái ngạch thượng
Nghĩa vụ phóng tâm biên.”

Dịch:

Sớm mai qua nơi nghĩa địa,
Muôn tiếng u hồn vang rền.
Thói đời bon chen phú quý,
Tình người ham đến bạc tiền.
Thù chung vái tạc trên trán,
Nghĩa vụ ghi dạ không quên.

Lăng mộ của Lê Hoan là một khu kiến trúc quy mô thể hiện cái uy thế của hắn lúc sinh thời, nhưng đã không hề được đả động chút nào trong bài thơ. Nó chỉ gợi cho cậu bé thi sĩ nghĩ tới bao nhiêu chiến sĩ yêu nước và dân thường đã bỏ mạng trong các cuộc đàn áp của tên tay sai thực dân xâm lược này.

Có điều đặc biệt rằng, những tưởng “u hồn vang rền” cũng không gợi sự căm thù đối với những cuộc chém giết đẫm máu, mà lại dẫn tới việc lên án nhân tình thế thái ham giàu sang, chuộng bạc tiền là nguyên nhân sâu xa và cốt lõi của mọi tội ác trong đời tên bán nước cầu vinh. Hai câu 3-4 lời thơ tưởng như điềm tĩnh nhận xét khách quan, nhưng đồng thời cũng là biểu lộ sự căm phẫn tỏ rõ ở câu sau ghi mối thù chung của mọi người đối với những kẻ do lòng tham giàu sang bạc tiền mà gây nên tội ác “bái ngạch thượng”, “vái tạc trên trán”. Kính cẩn ghi lại trong đầu óc, suy ngẫm về lý do của tai họa và phương sách trên trán, và từ đó chuyển sang câu cuối: Tự thấy có nghĩa vụ phải quyết tâm hành động. Câu trên nói về lý trí nhìn nhận hiện trạng và nguyên nhân của mối thù và cái cách thức rửa hận, câu sau là tấm lòng hăng say nhận nghĩa vụ thực hành, cả hai câu kết hợp lý trí và tình cảm quyết tâm.

Bài thơ theo thể ngũ ngôn, nhưng không theo đúng thể luật thơ Đường: vì chỉ có 6 câu, không phải thể bát cú hay tứ tuyệt thông thường. Tuy vần cuối câu được bảo đảm, nhưng về đối ngẫu và niêm luật thì theo thể thơ Cổ phong. Đây là bài thơ chữ Hán duy nhất được thấy của Thiều Chửu. Sau này ông còn làm thơ chữ Hán, có lẽ vì thấy kiểu thơ này không đại chúng, không phục vụ được ý định của ông nhằm đem lại chân lý cứu khổ diệt khổ cho nhân dân. Có điều lý thú là bài thơ đầu tiên của cậu bé 13 tuổi có thể coi là báo hiệu hướng sống của cả cuộc đời sau này. Nhận thức nỗi khổ đau do lòng tham danh hám lợi gây nên, bình tĩnh và sáng suốt nhận định nguyên nhân và biện pháp giải trừ, tự cho mình nghĩa vụ phải thực hiện việc loại bỏ hiểm họa đó. Nhưng khi nhận định về nguyên nhân của sự đau khổ, chỉ chú ý lòng tham nguy hại, vị kỷ của con người, không truy tìm đến hoàn cảnh xã hội đã khiến nảy nở và nuôi dưỡng lòng tham đó. Có thể nói ở ngay từ tuổi này Thiều Chửu đã chịu ảnh hưởng của đạo Phật, chắc là do ảnh hưởng của bà nội và từ năm 8 tuổi ông đã được ăn chay.

Hành đạo kết hợp với nhiệm vụ kháng chiến

Theo TLTC, phần thơ ca Thiều Chửu ghi sau bài thơ chữ Hán vừa trình bày ở trên là mảng “thơ ca làm trong thời gian kháng chiến chống Pháp”. Như vậy từ năm 1915 (khi Cư sĩ 13 tuổi) đến năm 1945 không ghi được một bài nào. Rất có thể trong thời gian đó ông vẫn sáng tác thơ ca đều nhưng đã bị thất lạc. Ở thời gian này đã được in cuốn “Sự tích Phật Tổ diễn ca” (Hòa Ký xb. 1935) và trong bản dịch Thiền Uyển tập anh, Tây du ký (đều do Đuốc Tuệ xb. 1939) cũng như trong kinh Diệu pháp Liên Hoa (Đuốc Tuệ xb. 1953, Tôn giáo xb. 2001) có những bài dịch thơ. Bài viết này do điều kiện thời gian nên không đề cập được tới phần diễn ca cũng như phần thơ dịch mà chỉ hạn chế việc tìm hiểu những bài ghi trong TLTC, thêm đôi bài bổ sung.

Năm 1945, mặc dầu bận rộn về việc quản lý và biên tập cho báo Đuốc Tuệ, Cư sĩ Thiều Chửu vẫn tham gia việc thành lập Tổng hội Cứu tế chống lại nạn đói khủng khiếp đang hoành hành. Cách mạng Tháng Tám thành công, ông tích cực tham gia mọi mặt và khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông đã đưa một lớp gồm hơn 120 trẻ mồ côi và tăng ni đi sơ tán cùng với thân mẫu của ông hồi đó tuổi đã thất tuần. Các người thân của Cư sĩ Thiều Chửu đều công nhận ông là một người suốt đời không nghĩ đến mình, sống không vợ con, ngay từ nhỏ chỉ chăm chú đến việc thờ phụng bố mẹ, giúp đỡ anh chị em trong gia đình; nên trong kháng chiến, khi phải để mẹ già cùng em gái và gia đình em trai tản cư ở Yên Mỹ (Thạch Thất, Sơn Tây) còn ông đưa trại về sản xuất ở Phúc Yên, ông đã có những câu thơ nhớ mẹ thật cảm động:

“Tản Viên khuất nẻo xa xa,
Từ thân ta đó là nhà phải không?
Ngọt bùi chưa chút đền công,
Bấy lâu nay những nặng lòng vì con.”
đồng thời cũng xác định nhiệm vụ hiện tại của mình:
“Một lòng hứa hẹn nước non,
Nước non sóng gió, con còn xông pha.”

Và như một người đã nguyệt suốt đời gắn với đạo Phật, ông không quên lời cầu nguyện:

“Khẩn cầu đức Phật Thích Ca,
Độ cho Mẹ được càng già càng dai.”

Và dùng những từ đầy hình ảnh và ý nghĩa sâu xa của đạo Thiền tả niềm vui được đoàn tụ nay mai:

“Hôm mai hai mẹ con ta
Dâng hương chân tịnh, dâng hoa chân thường.
Bè từ cập bến cùng sang(1),
Cùng nương cảnh Phật thênh thang tháng ngày.”

Cũng trong thời kỳ này em dâu Cư sĩ cùng sơ tán với cụ bà đã từ trần do đau ốm, để lại đàn con nhỏ, em trai lại công tác vắng, ông đã có mấy câu thơ ghi lại nỗi đau của mình:

“ Hôm nao dưới gốc cây này,
Cùng ai cơm nắm tính xoay việc đời.
Chia tay đi khắp phương trời,
Tuyệt vô âm tín ngùi ngùi lòng thương.
Một đàn cháu bé dở dang,
Cậy ai nâng đỡ cưu mang qua ngày.
Thương cháu hàng lệ ròng ròng,
(................)
Thương Mẹ muôn nỗi đau lòng vì con.
Thương em tê tái lòng son,
Mẹ già, con bé, lo tròn làm sao ?”

Và ở một bài khác ông đã nhắc lại cảnh đau thương này, nhưng để xác định nhiệm vụ hiện tại của mình:

“Đồi Yên Mỹ quê nhà thổn thức,
Mượn bút nghiên tỏ thực tấm lòng.
Mẹ già khuya sớm trông mong,
Em thơ nhà túng lâm chung cảnh sầu.”

Cảnh đau thương, nhưng không thể để tình cảm riêng làm nhụt ý chí phục vụ đất nước, dù kém đức tài nhưng đã từ lâu vẫn quyết hiến mình cho lợi ích chung:

“Con nhẹ bước dãi dầu mưa nắng,
Miếng tân toan quyết chẳng nhường ai (2).
Tủi thân kém đức thua tài
Giang sơn còn đó, gươm mài đã lâu.”

“gươm mài đã lâu” khiến ta nhớ lại câu thơ chữ Hán “nghĩa vụ phóng tâm biên” (nghĩa vụ ghi lòng) làm năm 13 tuổi, quyết chia sẻ nỗi cay đắng cùng toàn dân trong việc gìn giữ giang sơn.

Tự nhắc nhở nghĩa vụ của mình, ông cũng làm điều này đối với người em trai yêu quý, kém ông 8 tuổi. Ông đã an ủi em mình sau thảm cảnh vợ từ trần để lại đàn con nhỏ, động viên không nên vì chuyện nhà mà ảnh hưởng xấu đến công tác. Ông đã nhắc lại câu cụ Phan Châu Trinh biệt hiệu Tây Hồ đã nói khi được tin con trai từ trần: “Ta có biết nhà là cái vật chi”

“Hy sinh trông tấm gương gần
Nhà là cái vật chi cần phải lo
Lung linh mặt nước Tây Hồ...”

Và khi người em trai đã mất vợ, con còn nhỏ, rời bỏ công tác về chăm nom gia đình, Thiều Chửu đã khuyên phải trở lại hoạt động cách mạng:

“Xưa nay những đấng anh hào,
Thuyền nan sóng cả cắm sào thung dung.
Một mình trời bể mênh mông,
Sóng cả mặc sóng, lòng không sờn lòng.”

Em trai Cư sĩ, ông Nguyễn Xuân Nghiêm đã nghe lời anh trở lại đội ngũ. Ông đã hy sinh trong chiến dịch năm 1950 và được truy tặng danh hiệu liệt sĩ.

Cùng với đoạn thơ có tính cách khuyên nhủ động viên, có bài thơ Tặng học trò là Ni sư Thích Đàm Ánh nhân sinh nhật lần thứ 19 có câu:

“Biết nghĩa cả đền ân tử tế,
Ngoài 45 phong thể dần dần”.

“Ngoài 45” tức là sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, “phong thể dần dần” tức là vận nước tuy gặp gian lao, vẫn dần dần ổn định và khuyên

“Nghĩa là tu phải chăm từng tý,
Theo luật chung bố thí đừng quên.
Lúc nào cũng có bề trên,
Kính nhường êm ái bốn bên cho hòa.”

Câu thơ nhắc nhở việc cần thận trọng mọi mặt, chú ý đến “bố thí” không phải chỉ là giúp của, mà chủ yếu là đem tâm trí sức lực để giúp đỡ người. “Kính nhường ân ái bốn bên cho hòa” nhắc tới khẩu hiệu “Lục hòa kính” là nhiệm vụ chủ yếu của Tăng ni, sáu điều hòa hợp kính nhường lẫn nhau mọi mặt: trong cuộc sống chung, trong lời nói, trong việc tu dưỡng, gìn giữ giới luật, phân chia phúc lợi.

Câu kết khuyến khích động viên, cho tới lúc thấy kết quả của việc kiên định tu hành:

“Nữa mai phúc quả trùng lâm,
Một năm gây dựng mấy năm tiếng đồn.”

Ni sư Đàm Ánh nay tuổi đã gần bát tuần, trụ trì chùa Phụng Thánh một ngôi chùa cổ ở phố Khâm Thiên được Sư bà tôn tạo xây dựng thêm thành một thắng cảnh địa của Thủ đô. Sư bà lại từng được mời đi thăm nhiều nước châu Âu, câu thơ “Một năm gây dựng mấy năm tiếng đồn” phải chăng là một lời tiên tri của một bậc tiên giác ?

Ngoài những bài thơ biểu lộ tình cảm thắm thiết của một người con trong gia đình, hay của một người thày, có những bài ghi lại một số hiện tượng trong kháng chiến. Như khi được tin một người trong đoàn mình không chịu được gian khổ đã bỏ trốn về vùng tạm chiến, ông đã cảm xúc có một bài dài, trong đó có những câu:

Phí bao nước mắt mồ hôi,
Cây Bồ Đề sắp nảy chồi nở hoa.
Thương ai nghiệp chướng tối lòa,
Đường quang chẳng bước rẽ ra lối tà.
(...............)
Chẳng suy Phật tự tâm ta,
Làm theo chính nghĩa mới là chân tu.
Lợi sinh gây dựng cơ đồ,
Mới là hoằng pháp qui mô đường hoàng.

Nhà thơ đã thống nhất “chính nghĩa” với “chân tu”, tinh thần yêu nước với “hoằng dương Phật pháp”. “Lợi sinh” là đem lại phúc lợi cho cuộc sống, chỉ thực hiện được khi “vui cảnh tự do trời sán lạn” như ghi ở một trong 4 câu cuối:

“Vui cảnh tự do trời sán lạn,
Thương người lạc lối đất chông gai.
Yêu nhau nhắn nhủ cho nhau nhỉ,
Tu tỉnh sao cho xứng cái đời !”

Trong bài thơ viết bằng thể ngũ ngôn gửi các Tăng già trong vùng tạm bị chiếm, ông cảnh báo tệ nạn lợi dụng tôn giáo bày đặt cách cúng vái để kiếm tiền, có những câu sau:

“Hết cầu cúng đàn tràng,
Lại bùa bèn đồng bóng.
(..............)
Bòn rút hết hầu bao,
Để tự cung tự phụng.
Dân vì đó suy tàn,
Nước vì đó lủng củng.
Làm mồi cho thực dân,
Dễ bóp cổ bưng họng.”
Và ông kêu gọi:
“Hỡi đệ tử Thích Ca,
Đường tu nhằm cho đúng.
Trông gương Phật Tổ ta,
Như bể trời lồng lộng.
(...............)
Hy sinh vô tận cùng,
Phục vụ cho đại chúng.
Phục trí đều như nhau,
Viên thành công tu chứng.”

“Phục vụ đại chúng” là khẩu hiệu của cách mạng, đem dùng cũng rất thích hợp với đạo Phật, đề cao từ bi, bác ái. Khẩu hiệu cách mạng được kết hợp với danh từ Phật giáo “Phúc Trí”(3): “phúc” là đạo đức đem lại hạnh phúc cho đông đảo dân chúng; “trí” là trí tuệ, nhận thức điều này hay lẽ phải và cách thức thực hiện. Cũng như “công tu chứng” chỉ công phu tu hành có hiệu quả.

Bên cạnh những chuyện lo âu về thời cuộc, Thiều Chửu không quên dành những phút thanh thản, yên vui hân thưởng cảnh thiên nhiên cũng như nhịp sống thanh cao trong công việc tu hành. Ông có bài thơ vịnh nơi ở của các Ni sư:

“Một nơi vuông vắn, núi chắn xa xa,
Suối chảy quanh nhà, đồng xanh bao la.
Thiên nhiên cảnh trí bày ra,
Mà tô nên(4) cảnh ai là chủ nhân ?
Ngày thì chuyên cần, tối ngâm nga,
Nhịp nhàng tiếng học, tiếng ca
Càng vui cảnh tịnh, càng xa hồng trần.”

Lối thơ thoải mái theo các làn điệu ca dao, câu lục bát xen lẫn câu 8 chữ, và những câu 8 chữ này có thể ngắt thành 2 câu nhỏ mỗi câu 4 chữ, nối với nhau bằng vần lưng:

Một nơi vuông vắn,
Núi chắn xa xa.

Một cách phối hợp cảnh tượng thiên nhiên đẹp với cảnh được tạo dựng do bàn tay con người như ở và núi, sông chảy và đồng xanh, phối hợp lao động với văn nghệ, học tập với thơ ca, Thiều Chửu đã vẽ nên một cảnh “tịnh” (chữ nhà Phật chỉ cảnh vô cùng thanh khiết của tâm hồn, ở đây gồm cả cảnh tinh khiết của nơi tu hành và sự thanh khiết của tâm hồn của người tu hành) chỉ thấy được khi biết quên mình, sống hòa nhập với thiên nhiên, kết hợp lao động tu dưỡng và thưởng thức nghệ thuật.

Những bài trước tác phục vụ kháng chiến thêm cả hoằng pháp

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, với khẩu hiệu “Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến”, nhiệm vụ hàng đầu của người dân là vào quân đội ra tiền tuyến diệt giặc ngoại xâm, nếu không thì hậu phương tham gia diệt giặc đói bằng tăng gia sản xuất và diệt giặc dốt bằng đẩy mạnh bình dân học vụ. Thiều Chửu khi dẫn đoàn của lớp trẻ mồ côi và học viện của lớp Tăng ni đi sơ tán, nhờ tài tháo vát và nhất là đức độ của ông giành được sự tín nhiệm của nhiều cấp lãnh đạo địa phương, ông vừa tham gia dạy bình dân học vụ, vừa tổ chức trồng trọt chăn nuôi. Công việc gian khổ phải lưu chuyển nhiều nơi để tránh sự đánh phá của địch, nhưng ông đều vượt qua, gặt hái nhiều thành công.

Những bài ca ngắn gọn ý nghĩa súc tích sau đây để các đoàn viên nhiều lứa tuổi thực hiện hàng ngày trước bàn thờ Tổ quốc và trước mỗi bữa ăn đã có tác động không nhỏ trong việc nâng cao tinh thần yêu nước, yêu lao động, không ngừng tiến lên trong hoàn cảnh kháng chiến gian lao, nhưng cũng có mặt vô cùng hào hứng:

“Trước bàn thờ Tổ Quốc,
Chúng con xin tâm nguyện
Tổ quốc có giàu mạnh,
Chúng con mới được yên.”

Hoặc:

“Ăn để mà sống,
Sống cho đàng hoàng.
Tự tay làm lấy,
Ăn không bẽ bàng.”

Thiều Chửu thường nhắc tới Bách Trượng, một vị đại sư đời Đường chủ trương người tu hành một ngày không làm thì không ăn, nguyên tắc này rất cần thiết cho đoàn người trong bối cảnh tản cư kháng chiến. Vừa bảo đảm đời sống bản thân vừa đóng góp vào việc nuôi quân diệt giặc. Ngoài 4 câu ngắn gọn 4 chữ vừa trình bày ở trên, ông còn sáng tác mười bài lục bát:

“Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo cơm một hạt đắng cay muôn phần.
Tháng mười cho chí tháng năm,
Nắng mưa trải mấy mươi lần xông pha.
Kèm(5) công tự giác giác tha.
Càng ăn càng nợ người ta đời đời !”

“Tự giác giác tha” chữ nhà Phật và cũng là lý tưởng của việc tu hành tự mình nhận hiểu (nhận hiểu thấu đáo tức bao gồm cả việc hành động thực hành) rồi khiến người khác cũng nhận hiểu như mình. Người tu hành không được quên món nợ đối với công ơn những người đã sản xuất ra lúa gạo để nuôi mình, nhất là trong cảnh “mấy lần xông pha” ở thời kháng chiến.

Trong bài Phật ca, Thiều Chửu vừa tự nhắc nhở vừa nhắc nhở các đồng đạo về ơn sâu của đạo Phật đồng thời lên án tội ác của thực dân:

“Phật hằng tế độ trầm luân,
Yêu thương hết thảy là tâm Phật Đà.
Bảo cho ta biết rằng ta,
Thảy đều như Phật ai mà khác ai.
Chớ vì mê sắc mê tài,
Gây nên tội ác như loài thực dân,
Làm cho sai lạc nhân tâm,
Làm cho nhân loại muôn phần đau thương.”

Ngoài ra, Thiều Chửu còn sáng tác những bài ca để các Phật tử đồng thanh hát, tạo khí thế trang nghiêm trong các buổi lễ, đồng thời cũng tác động sâu đậm vào tâm hồn người hát cũng như người nghe. Những bài ca được viết theo thể tự do, số chữ trong một câu không nhất định, có thể từ 3, 4 đến 9, 10 chữ, vần được ghép tùy nghi, miễn bảo đảm âm đọc. Xin đơn cử một số câu trong bài Lấp biển trầm luân:

“... Cái biển trầm luân, trầm luân,
Ta đào, ta cuốc, ta san san,
San mặt biển cho thành sân(6).
Giang tay dấn bước chân
Vui chân ta về.
Ai ơi quyết chí ta ăn thề,
Ăn thề dù đau ốm, dù nguy,
Tâm tâm niệm Phật, cùng đi...”
Hoặc ở bài Thương thay nhân loại:
“.... Tinh tiến lòng không lưu luyến,
Người tu mau cầu hạnh phúc cho thế gian.
Về sau kia, dày công tu đức tài năng,
Sung túc cực lạc xây nền vững muôn đời.
Tâm nhất tâm chúng con thề tu đến nơi,
Trong trần ai, lo dọn hết chông gai
Đâu có xa,
Tính chân thường chân tính ta
Gương Thích Ca vằng vặc chiếu gương nga(7).”

Ngoài ra, cũng nên ghi mấy bài thơ nội dung không liên quan trực tiếp đến kháng chiến, những bài cảm tác khuyên đồng đạo trong việc tu hành, dùng thể thơ quan trọng đường luật bát cú. Như bài Nhắn nhủ người tu, 4 câu giữa bài:

“Bể khổ đua bơi thuyền Bát nhã,
Rừng Thiền thi hát đóa liên hoa.
Bánh xe chính pháp tan tam giới,
Ngọn đuốc từ quang tỏ lục hòa.”

Hai câu thực và hai câu luận trong bài thơ dùng nhiều từ của đạo Phật, phép đối rất chỉnh. Tuy không nói tới kháng chiến, nhưng khuyên các đồng đạo giữ vững đạo tu hành, có thể coi như gián tiếp phục vụ cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc.

Một mốc son trong lịch sử văn hóa Phật giáo

Trong lịch sử văn học Việt Nam, ngoài nền văn học dân gian là văn học truyền khẩu từ thời kỳ xa xưa, gắn liền với sự hình thành ban đầu của tiếng nói dân tộc, văn học viết được khởi đầu bằng chữ Hán, và các tác phẩm sơ khai là của các vị thiền sư. Có thể nói rằng dòng thơ ca chữ Hán trên đất Việt bắt đầu bằng bài từ Tiễn sứ giả Lý Giác của nhà sư Ngô Chân Lưu năm 986 dưới triều Lê Đại Hành; tiếp đó các nhà sư Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Diệu Nhân, Mãn Giác đời Lý; Pháp Loa, Thị Trung, Huyền Quang và cả vua Trần Thái Tông đời Trần đã cho thấy sự đóng góp đáng kể của văn học Phật giáo trong kho tàng văn học thơ ca chữ Hán ở thời kỳ đầu lịch sử văn học Việt Nam. Sang đời Lê, Nguyễn, theo sự hiểu biết của người viết, không thấy lưu lại một tác phẩm thơ ca nào chữ Hán hay chữ Nôm và chữ quốc ngữ sau này của các vị tu hành hoặc coi như chịu ảnh hưởng trực tiếp của Phật giáo. Cư sĩ Thiều Chửu với một số bài thơ sưu tầm được và trình bày trên đây, có thể coi như kế tục dòng thi ca đạo Thiền của những thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIII, sau bảy trăm năm bị ngắt quãng. Về di sản thi ca của ông, hiện mới thấy một bài chữ Hán, tập diễn ca về đức Phật, một số bài dịch các bài kệ trong các kinh Phật và các bài trong TLTC. Tư liệu thi ca sưu tầm được tuy còn ít ỏi, nhưng có thể chiếm một vị trí không nhỏ trong di sản văn học thi ca về Phật giáo trước đây dù ở thời hưng thịnh của nó (triều đại Lý, Trần). So với mảng thi ca cùng loại ở các triều đại trước, mảng thơ ca của Thiều Chửu về đạo Thiền theo nhận định sơ bộ có mấy đặc điểm sau đây:

- Về nội dung: Thơ ca của ông gắn với tinh thần yêu nước. Trước cách mạng, Cư sĩ Thiều Chửu căm ghét thực dân nhưng tin tưởng ở đạo Phật coi như một phương tiện giảm nỗi đau thương cho dân tộc mình. Như lời anh ruột ông (tức Giáo sư Nguyễn Hữu Tảo), ông đã hăng say “hy sinh thì giờ, sức lực, tiền tài cho hội Phật giáo một tổ chức được thành lập... nhằm đánh lạc hướng thiện nam tín nữ, không để cho họ đi vào con đường cách mạng”. Có thể nói chính ông cũng nhận thấy tính cách phản động của tổ chức hội Phật giáo do thực dân Pháp cho thành lập, nên tuy ông nhận thấy điều hết sức quan trọng của Tăng già một thành phần cốt yếu của Tam bảo, ông nhất định chỉ là Cư sĩ, và với đức độ kèm sự tinh thông giáo lý của ông, ông thường được giới tăng lữ kính trọng nể vì, không kém các người tu hành chính thức. Bài thơ chữ Hán của ông làm năm 13 tuổi ghi “mối thù chung kính cẩn giữ trong đầu óc” (công cừu bái ngạch thượng) nhưng chỉ là căm thù thói xấu người đời “Ham giàu sang quí tiền bạc” coi như nguyên nhân gây mọi tội ác, nếu xóa bỏ được lòng tham đó bằng đạo Phật thì thù chung được trả xong. Do đó, ông tích cực tham gia các phong trào xã hội như truyền bá Quốc ngữ, tế bần cứu đói, mà không để ý đến làn sóng cách mạng đang dâng lên như vũ bão thời bấy giờ. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông đã dần dần nhận rõ thiếu sót của mình, thấy rõ sự cần thiết phải hướng theo tư tưởng cách mạng, chỉ có thế, lý tưởng “hoằng pháp cứu nhân” của ông mới thực sự được thực hiện. Ông đã đem hết tâm lực phục vụ kháng chiến, điều này thể hiện rất rõ trong nhiều bài thơ của ông. Nhưng cũng trong những bài này, ta vẫn thấy những ý, những từ của một đệ tử đạo Thiền. Thơ Phật giáo ở Thiều Chửu không còn là những bài kệ, bài thơ về triết lý sắc không, nhân quả của đạo Phật nữa mà là những lời hô hào hành động như ông viết ở bài Cảm tác:

“... Bốn phương vô minh che tối
Biết cùng ai lo tỏ đạo cao sâu.
Trằn trọc suốt năm canh toan tính,
Gươm trí tuệ mài mau !”

Có thể nói thơ Phật giáo ở Thiều Chửu đã có những nét mới, thích ứng với nhu cầu trước mắt của thời đại và cũng hợp với truyền thống bao đời của dân tộc, “giặc đến nhà đàn bà phải đánh”, và qua nhiều đời đã bao lần đánh đuổi giặc xâm lăng.

- Về thể loại và hình thức: trong gần 30 đơn vị thơ ca được ghi trong TLTC hoặc sưu tầm thêm, hình thức sáng tác khá phong phú: thơ Đường luật (cả tứ tuyệt và bát cú), lục bát, song thất lục bát, thể tự do (các bài ca) và cả câu đối. Có một câu đối có thể coi như thu gọn được giáo lý và giá trị nhân bản của đạo Phật:

Kết bè Từ, lòng Nhân chở khắp
Phá bến Mê, đuốc Tuệ soi chung

Có 3 bài theo thể Đường luật bát cú về những đề tài không liên quan trực tiếp đến kháng chiến như Nhắn nhủ người tu; Khóc thầy giáo Tán; Họa thơ Sư ông Quảng Quang. Ở những bài này, luật thơ Đường được bảo đảm, niêm luật đối xứng đều tề chỉnh, dùng nhiều từ ngữ của đạo Thiền, tỷ như:

- “Bể khổ đua bơi thuyền Bát nhã,
Rừng Thiền thi hái đóa Liên hoa.”
(Nhắn nhủ người tu)

- “Nóc chùa Tế Độ mờ hương khói,
Vườn trại Cù Vân vắng bóng người.”
(Khóc thầy giáo Tán)

- “Tính hằng thanh tịnh đâu còn đục(8)
Thề vốn thường minh chẳng phải u”
(Họa thơ Sư Ông Quảng Quang)

Nhưng ở ngay loại thơ đòi hỏi qui tắc nghiêm chỉnh này cũng có chỗ “Phá thể” như ở câu đầu và câu cuối bài Khóc thày giáo Tán:

- “Thày Tán ơi, thày Tán ơi !” (câu 1)

- Thôi thế thì thôi, thày Tán ơi ! (câu 3)

Không thật đúng luật, nhưng câu thơ có thế mới đúng với tâm trạng nghẹn ngào nức nở thương tiếc người đã khuất... Và có thể nói rằng nét phóng khoáng không câu thúc về hình thức là đặc trưng của tài làm thơ Thiều Chửu. Ngay từ bài thơ chữ Hán làm năm 13 tuổi: thơ 5 chữ chỉ có 6 câu và niêm luật theo thể cổ phong, không thật đúng niêm luật theo thể thơ Đường.

Tiêu biểu nhất cho thể thơ phóng khoáng này là “Một số bài ca (hát theo điệu nhạc Phật ca)” (trong TLTC) có lẽ chú trọng ở điệu lời hát hơn là số chữ từng câu hay phép ghép vần. Chính sự đa dạng trong cách ghép vần và đặt chữ trong câu đã tạo nên sự hấp dẫn và truyền cảm trong lời thơ như mấy câu cuối bài Chân tu:

“Lòng thực tu
Đã chuyên tỉnh
Chân như kia
Dần theo gió mà tường minh(9).”

Có 2 bài song thất lục bát là Thơ tặng học trò là Ni sư Thích Đàm Ánh Nhớ nhà, còn phần lớn theo thể thơ lục bát, nhưng có những bài sau một số câu lục bát là một bài thơ Đường luật 8 câu (bài Nhắn một Tăng ni trong đoàn bỏ về vùng tạm chiếm. Đặc biệt có một bài thơ Thơ vịnh nơi các Ni sư ở mở đầu bằng 2 câu thơ 8 chữ (có thể ngắt thành 4 câu mỗi câu 4 chữ) sau lại có câu 8 chữ giữa 2 câu lục bát, tiếp theo là 2 câu song thất, có vần lưng nhưng lại đối nhau:

“Hồi chuông sớm khua tan mộng điệp(10)
Tiếng mõ chiều như dẹp lửa phiền”.

Tiếp theo là câu lục bát và kết thúc là câu lục (6 chữ). TLTC ghi “bài này có lẽ thiếu một số câu”, nhưng dù có thêm được ít nữa, vẫn thấy cấu trúc bài thơ rất phóng khoáng vì số chữ trong câu và cách gieo vần, khiến đọc lên thêm phần hứng thú. Hoặc ở một bài khác Nhớ ơn Phật Tổ mở đầu là một bài tứ tuyệt nhưng hai câu 3 - 4 lại đối nhau: Hy sinh thân thế tìm chân lý - Tế độ quần mê tới đại đồng, (không ngại dùng từ “đại đồng” của Nho giáo trong bài thơ nói về Phật), tiếp theo là 4 câu thơ lục bát nhưng câu đầu lại là câu 9 chữ “Chư tăng ơi, nhớ ơn Phật Tổ vô cùng”. ở bài này cũng như bài trên và nhiều bài khác, ông không câu nệ trong số chữ từng câu và trong cách gieo vần, tránh được tệ đơn điệu thường thấy trong thơ cổ truyền, và sự đơn điệu đó đã phần nào thúc đẩy sự hình thành phong trào thơ mới. Cũng nên ghi thêm là thơ Thiều Chửu như các thân nhân và đệ tử cho biết được làm rất nhanh. Ông không có thì giờ và cũng không có ý định đầu tư công sức trong việc trau chuốt cho hoàn mỹ. Dù như vậy chất thơ Thiều Chửu nhiều mặt không thua kém thơ cổ điển, ví dụ về mặt đối ngẫu có những câu thơ:

“Vui cảnh tự do trời sán lạn,
Thương người lạc lối đất chông gai”
(Nhắn một vị Tăng ni trong đoàn bỏ về vùng tạm bị chiếm).

Có người cho rằng “tự do” đối với “lạc lối” hay “sán lạn” đối với “chông gai” chưa thật chỉnh (từ Hán Việt đối với từ thuần Nôm), nhưng “người” đối với “cảnh”, “trời” với “đất” sẽ thỏa mãn những người khó tính nhất trong sự đòi hỏi về luật thơ.

Hoặc hai câu:

“Nóc chùa Tế Độ mờ hương khói,
Vườn trại Cù Vân vắng bóng người”.
(Khóc thày giáo Tán)

Cả về lời văn, cả cảnh và tình đều thích đáng.

Thiều Chửu còn sáng tạo những hình ảnh đầy chất thơ và gắn liền với giáo lý Thích Ca: Bánh xe chính pháp, ngọn đuốc từ quang (Nhắn người tu), gươm trí tuệ (Cảm tác), thanh gươm tuệ (Cảm tác, Khuyên em trai), thuyền Bát nhã (Khuyên tu).

Về âm điệu: Nói chung vần điệu các bài thơ đều tề chỉnh. Đôi khi có những nét sáng tạo như ở bài Thơ vịnh nơi các Ni sư ở hai câu đầu:

“Một nơi vuông vắn, núi chắn xa xa
Suối chảy quanh nhà, đồng xanh bao la”

Câu trên 8 chữ có thể phân thành 2 câu ngắn mỗi câu 4 chữ và gắn với nhau ở vần lưng (vắn - chắn), câu sau cũng chia làm 2 vế gắn với nhau ở vần chân (nhà - là), cả câu 8 chữ chỉ có 2 chữ vần trắc còn 6 chữ vần bằng: Suối chảy quanh nhà, đồng xanh bao la. Điệu nhạc êm dịu hợp với khung cảnh êm đềm yên tĩnh của một nơi tu hành.

Nói chung, từ bài thơ chữ Hán năm 13 tuổi đến các bài khác đã được sưu tầm, chủ yếu sáng tác trong thời kỳ KCCP, hết thảy đều biểu lộ một tâm hồn cao quí của một người yêu nước chân chính có nghị lực phi thường, toàn tâm toàn ý phục vụ lý tưởng của mình. Mới đầu gắn liền với lý tưởng của đạo Thích Ca, sau kết hợp với lý tưởng cách mạng của thời đại mới từ bi độ thế đòi hỏi phải giành được độc lập tự do dân tộc mới thực hiện được cứu cánh diệt khổ cứu người, hoằng pháp lợi sinh.

Cổ nhân từng biểu dương ba điều tạo dựng (Tam Tập) theo sách Tả truyện: Thứ nhất là lập đức coi như trên hết (thái thượng lập đức) tức tạo nền đạo đức cho chính mình bằng công phu tu dưỡng bản thân và cho người khác bằng sự tự nêu gương mẫu và bằng cách giáo hóa khuyên răn. Thứ hai là lập công (kỳ thứ lập công) hay lập nghiệp tức hành động cụ thể đóng góp vào bước tiến chung, trừ tai họa, tạo nên sự yên bình, thúc đẩy bước tiến của gia đình và xã hội. Thứ nữa là lập ngôn (kỳ thứ hựu lập ngôn) tức nói hay, viết những điều hay, được lưu truyền rộng rãi và lâu dài.

Ở Cư sĩ Thiều Chửu, ông đã có sự tạo dựng cả ba mặt nói trên. Về lập đức, cả đời ông đã hoàn toàn quên mình, dồn mọi sức lực tâm can vào lý tưởng “tự giác giác tha” của đạo Phật, suốt đời tu dưỡng, không từ bỏ một dịp nào mưu cầu hạnh phúc cho người, từ những người thân trong gia đình đến mọi thành phần - nhất là những thành phần khốn khó, không may trong xã hội. Về lập nghiệp: ông đã tích cực tham gia mọi công việc mà ông cho là đem lại hạnh phúc cho số đông, hợp với lý tưởng một Phật tử chân chính, thành lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ, dựng chùa làm trụ sở Hội, dịch kinh sách đạo Phật, tham gia giảng dạy Tăng ni, tham gia thành lập và hoạt động tổ chức xã hội với những vấn đề thiết thực cấp bách đương thời. Về lập ngôn, ông đã để lại một khối lượng khá lớn những bản dịch kinh Phật, những bài báo trên tạp chí Đuốc Tuệ, những sách viết về Phật giáo trong đó có cuốn Hán Việt Tự điển đã được cả giới học thuật hoan ngênh, mặc dầu trước tiên cuốn sách nhằm phục vụ các Tăng ni muốn đi sâu vào kinh Phật được dịch ra chữ Hán. Trong di sản “lập ngôn” của Cư sĩ, phần thơ ca được trình bày trong bài này chỉ là một phần rất nhỏ về mặt khối lượng.

Sách cũ, trong lời chú giải câu nói của Tả truyện về “Tam lập” (ba mặt tạo dựng) nói trên có nêu tên những người xứng đáng tiêu biểu cho từng địa hạt lập đức, lập công, lập ngôn. Như lập đức có Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn ba vị vua lý tưởng thời thượng cổ. Lập công có Vũ, Tắc (vua Vũ sáng lập nhà Hạ, ông Tắc một bề tôi giỏi thời cổ). Riêng Cư sĩ Thiều Chửu như thế có thể kiêm tạo dựng được cả ba mặt. Nhưng cũng như lời nói cũ: “Tối thượng lập đức”, về mặt tạo dựng nền đạo đức cho chính mình và cho người, mặt tạo dựng cao quý hơn cả, cũng là mặt chủ yếu trong cá tính của Cư sĩ Thiều Chửu. Với đức lớn quên mình vì lợi ích chung, còn ghi lại tự rèn luyện để phục vụ lý tưởng của mình, ông đã nêu tấm gương sáng ngời về đức hạnh. Và cũng do đó, ông được mọi người mến phục mà có thể hoàn thành mỹ mãn mọi công việc của mình, ngay phần lập nghiệp, lập ngôn cũng chỉ là phục vụ cho lý tưởng lập đức.

Và lập đức đối với Cư sĩ Thiều Chửu chính là lý tưởng “tự giác giác tha” của đạo Phật, nhưng là đạo Phật đã được kết hợp với lý tưởng cách mạng hiện đại, đúng như tiêu đề ông đã đặt ở ngay trang đầu cuốn Con đường học Phật ở thế kỷ XX: “Phải tận hiếu với nhân dân. Nhân dân là cha mẹ bao kiếp, là chư Phật vị lai”. Lời này được ông viết năm 1950, sau khi được tiếp xúc với tư tưởng cách mạng mới, và ý tưởng bao hàm trong đó có lẽ chưa thấy được ghi trong kinh điển Phật giáo. Việc hoằng dương Phật pháp kết hợp với quyền lợi tối cao của nhân dân có thể coi là nét mới của Phật giáo Việt Nam và Thiều Chửu thực sự đã đem thơ ca làm trong kháng chiến chống Pháp thể hiện, đúng với cách định nghĩa về “lập đức” trong lời chú giải của sách xưa: “Sách chế thùy pháp, bác thi tế chúng”: Sáng tạo đặt ra phép tắc ứng dụng cho đời, mở rộng việc thực hành đem lại lợi ích cứu giúp quần chúng.

T.T

CHÚ THÍCH:

(1) TLTC ghi “bè từ gặp bến” ngờ rằng ghi lầm, đúng ra là cập bến.

(2) TLTC ghi “tân thoan” chắc là in nhầm, đúng ra là tân toan.

(3) TLTC ghi “phúc chí”, không thấy trong từ điển Phật học, ngờ là Phúc Trí được giảng là “phúc đức và trí tuệ” cũng như “tu chứng” được giảng: “tu hành chứng lý chứng quả vị” (tự tu hành đạt đến kết quả hiểu rõ giáo lý, thực hành có hiệu quả (xem Từ điển Phật học Hán Việt, Nxb. KHXH, 1998).

(4) TLTC ghi “mà tô lên cảnh...” ngờ là ghi lầm.

(5) TLTC ghi là kém công. Có lẽ phải là kèm công... “ có nhiệm vụ tu hành, thêm ý thức biết ơn nhà nông”.

(6) TLTC chỉ ghi hai từ san, tôi ngờ phải thêm một từ nữa mới đầy đủ.

(7) TLTC ghi “chiếu hương nga”. Chắc ghi nhầm hay in nhầm. Cả bài này và bài trên đã được ngắt câu lại, khác với TLTC. Rất có thể không chính xác cần được nghe các vị đã cung cấp tài liệu này lặp lại điệu ca đã được thực hiện năm xưa.

(8) TLTC ghi: “đâu còn độc”, ngờ là nhớ hoặc in nhầm.

(9) Ngắt câu lại, không theo trình tự câu trong TLTC.

(10) TLTC ghi không có từ “sớm” chắc là nhớ thiếu hay in bỏ sót.

TB

TÌM HIỂU LƯU KHÁNH ĐÀM QUA
TƯ LIỆU HÁN NÔM HIỆN CÓ Ở ĐỊA PHƯƠNG

LÂM GIANG

Từ thị xã Thái Bình theo quốc lộ số 10 đi Hải Phòng, đến km 12, rẽ tay trái sang đường 39 đến bến Hới (Hải Triều), rẽ tay phải theo đê sông Luộc qua xã Thanh Tân là đến thôn Lưu Xá, xã Canh Tân. ở nơi đây có đền Lưu Xá, chùa Báo Quốc và lăng mộ là những di tích liên quan tới Lưu Đàm và Lưu Điều, hai vị công thần triều Lý.

Trong cụm di tích này nhân dân địa phương còn giữ gìn được nhiều bia đá, câu đối, thơ văn, thần phả nói về 2 vị họ Lưu. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu những tư liệu Hán Nôm đó:

1. Lý triều công thần nhị vị Thái phó Lưu đại vương ngọc phả lục 李 朝 功 臣 二 位 太 傅 劉 大 王 玉 譜 錄 Quốc triều Lễ bộ chính bản.

Sơn Tây tỉnh Bạch Hạc xã tiền Lễ bộ Thượng thư tàng bản.

Ngọc phả cho biết: Khi Lê Đại Hành lên ngôi, chiêu tập hiền tài trong cả nước; Lưu Ngữ, người Cửu Chân châu ái, giỏi thi thư, văn võ kiêm toàn, được tiến cử, Lê Đại Hành cho giữ chức quan hưởng lộc huyện Ngự Thiên, phủ Tân Hưng. Ông trải xem phong cảnh trong huyện, qua xã Lưu Xá, thấy đất ấy sau sông, trước đầm, sông nước quanh co, thế rồng chầu hổ phục, bèn lập một cung ở lại đó, rồi cưới vợ người bản quán là bà Trần Thị Ngọc. Bà Ngọc gần 40 tuổi mà chưa có con, nên ông lại cưới bà họ Phạm, con gái út ông Phạm Khuông, tên là Phạm Hồng Nương mới ngoài 20 tuổi về làm vợ lẽ. Sau đó ít lâu hai bà đều có thai, đến giờ Dần ngày 12 tháng 8 năm Kỷ Sửu, bà họ Trần sinh được một trai, đặt tên là Lưu Đàm; đến khắc đầu giờ Ngọ hôm ấy, bà họ Phạm cũng sinh được một trai, đặt tên Lưu Điều. Hai anh em 8 tuổi đi học, học được 5, 6 năm thì Ngũ điển Tam phần đều thông. Về văn thì Lưu Đàm hơn Lưu Điều, về võ Lưu Điều hơn Lưu Đàm. Về sau Lưu Ngữ thấy Lý Công Uẩn có thanh thế trong triều, bèn đem 2 con gửi cho Lý Công Uẩn. Lý Công Uẩn dùng Lưu Đàm và Lưu Điều làm thủ túc.

Lê Đại Hành ở ngôi được 24 năm thì băng hà, Long Việt lên nối ngôi, mới được 3 ngày, bị em là Long Đĩnh giết. Long Đĩnh lên ngôi, hiệu Ngọa Triều. Ngọa Triều ở ngôi được 2 năm thì mất. Lý Công Uẩn được hai anh em ông Đàm hộ vệ lên ngôi, hiệu Lý Thái Tổ, đổi niên hiệu, đại xá thiên hạ, phong cho ông Đàm làm Quang lộc đại phu hầu cận bên cạnh, ông Điều làm Trung úy trông coi cấm binh tuần phòng trong thành. Khi đó ông Đàm dâng lời nói rằng: “Thăng Long là đất phú cường, chính là nơi gốc cũ, đóng đô ở đó thì quốc gia trường thịnh, thiên hạ không địch nổi, xin bệ hạ dời đô về đây”. Thái Tổ nghe vậy, bèn chọn ngày xa giá cùng ông Đàm, ông Điều và bá quan văn võ dời đô.

Sau đó, tướng của Chiêm Thành tên Bố Hợp, và tướng của Chân Lạp tên Vãn Đâu, cùng nhau chia đường sang đánh nước ta. Nhà vua cho Lưu Đàm làm Đại tướng, Lưu Điều làm Giám quân đem 15 vạn quân đi dẹp. Giặc bị đánh tan, bắt sống Bố Hợp, xa giá khải hoàn. Mới được vài tháng, nhà Tống sai Thục Viễn làm Soái tướng, Nhân Bảo làm Tướng quân, đem quân đến xâm lược. Lý Thái Tổ lại sai Lưu Đàm làm Chủ soái, Lưu Điều làm Đại tướng đem 10 vạn quân chống lại quân Tống. Quân Tống đại bại phải lui về. Quân Tống 3 lần sang xâm chiếm vùng biên giới cả 3 lần đều bị hai ông Đàm và Điều đánh bại.

Lý Thái Tổ thấy hai anh em ông Đàm có công dẹp giặc Tống, ông Đàm lại bày kế dời đô, bèn phong cho Lưu Đàm làm Khai quốc công thần, Thái phó, sai dạy Thái tử Phật Mã; Lưu Điều làm Chỉ huy sứ, nhậm chức ở đạo Hải Dương.

Hai ông bái tạ Thái Tổ xin về Lưu Xá khao thưởng xã dân, lập doanh trại ở lại đó, cứ ngày mồng một và ngày rằm vào triều bái yết Thái Tổ. Thái Tổ thăng hà, Phật Mã lên nối ngôi, hiệu Thái Tông, triệu anh em ông vào ban thưởng quan tước, gấm vóc bạc vàng. Thái Tông thăng hà, Thánh Tông nối ngôi, cho ông Đàm làm Bình chương sự, ông Điều làm Thái phó. Ông Đàm xin về ở Lưu Xá dựng chùa, rồi xuất gia tại đó. Mới được vài tháng, ông Đàm đột nhiên không bệnh qua đời. Thánh Tông lập tức đến trị sở hành lễ, an táng. Nhân vì ông là khai quốc công thần, nhà vua bèn đặt cho tên chùa là Báo Quốc, gia phong “Lưu Đại Vương” và mỹ thụy: “Chính trực chiêu cảm”. Thánh Tông nhân dựng tháp Báo Thiên ở Thăng Long cao 30 trượng, với 30 tầng, lại dựng một tháp cao 9 trượng, với 9 tầng ở trên lăng Đại Vương Lưu Xá, dựng bia ghi sự tích.

Lưu Điều sau khi người anh qua đời, thấy mình chẳng sống được bao lâu, bèn tìm ngôi đất là một gò cao giữa đầm làm sinh phần, không bao lâu ông cũng qua đời. Thánh Tông lại sai sứ về Lưu Xá, lập bia ghi công đức, gia phong “Độ Đại Vương”. Sau đó ít lâu, dân Lưu Xá lập miếu thờ 2 ông làm Thành hoàng.

2. Nhị Lưu Thái phó sự trạng ký 二 劉 太 傅 事 狀 記

Bia dựng tại đền thờ Lưu Xá, do Ngô Dương Đình (Ngô Thế Vinh), người Bái Dương, tỉnh Nam Định, Tam giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Sửu Minh Mệnh (1829) soạn. Bia tạo năm Tự Đức thứ 8 (1855).

Bài văn bia cho biết: Ông trưởng húy..., tiến triều, Lý Thánh Tông sung Nội thị, lớn lên vì có lòng trung cần, nên được lĩnh quân lữ, có công lớn, cuối đời Nhân Tông làm đến Thái úy nhận di chiếu phò Thần Tông lên ngôi. Ông làm quan trải 4 đời vua, tới chức Quang lộc đại phu suy thành Tá lý công thần, Nhập nội nội thị sảnh Đô đô tri Tiết độ sứ đồng tam ti bình chương sự Thượng trụ quốc, Khai Quốc công, thực ấp sáu ngàn hộ, thọ 69 tuổi...

Ông em húy..., quan đồng triều với ông anh, tước thượng phẩm. Khoảng năm Thái Ninh đời Nhân Tông (1072-1075), quân Tống đến xâm lược, ông vâng mệnh đi dẹp, lập công trở về. Niên hiệu Thiên Thuận Thần Tông năm đầu (1128) vì có công giúp rập nên được phong Thái phó. Về cuối đời ông trở về Lưu Xá xây chùa tháp, đặt tên là Báo Quốc, sau mất ở nơi làm quan, được phong phúc thần.

Trong văn bia, tên húy của hai ông để trống không ghi, nhưng tập Nhị Lưu Thái phó thần sự trạng 二 劉 太 傅 神 事 狀 hiện lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (A.1027) chép lại bài văn bia này có ghi tên húy của ông anh là Khánh Đàm, ông em là Khánh Ba (?). Có thể người sao văn bia đã tham khảo ở các sắc phong hiện lưu giữ tại đền Lưu Xá từ Lê Cảnh Hưng đến Nguyễn, sắc cho 2 vị Thái phó Lưu Đàm 劉 潭 và Lưu Ba 劉 波.

3 . Hoàng Việt Thái phó Lưu quân mộ chí 皇 越 太 傅 劉 君 墓 誌

Bia để trong lăng mộ Lưu Khánh Đàm, khắc khi Lưu Đàm qua đời. Văn bia cho biết, ông họ Lưu, húy Khánh Đàm, giữ chức Quang lộc đại phu Suy thành tá lý công thần, Nhập nội nội thị sảnh Đô đô tri Tiết độ sứ đồng tam ti Bình chương sự, Thượng trụ quốc, Khai Quốc công, thực ấp sáu ngàn hộ, thực phong ba ngàn hộ, Thái úy Quốc công, gia Thái phó, người thôn An Lãng, giang Ngũ Huyện, quận Cửu Chân. Đời thứ hai triều Lý (Lý Thái Tông 1028-1054) sung vào nội thị, làm quan trải bốn triều, tháng trọng đông năm Tân Tỵ qua đời, thọ 69 tuổi.

4. Lưu Xá Báo Quốc tháp tự 劉 舍 報 國 塔 寺. Bia dựng trong tháp mộ ông em Lưu Khánh Đàm (tức Lưu Điều).

Bia không ghi năm tạo, cho biết: nhà sư trị trì tại chùa Báo Quốc, xã Lưu Xá khắc lại. Rằng đây là bia dựng tại lăng mộ ông em vị Thái phó, hai anh em ông có công dẹp giặc Tống. Vì bốn phía lăng mộ là ao đầm, dòng nước chảy, trâu bò dẫm đạp, tháp bị hủy hoại, nên phải xây lại tháp mới. Văn bia còn cho biết, bia tháp này khắc lại trên nền bia cũ khắc ngày 25 tháng 8 năm Canh Tuất, niên hiệu Thiên Thuận thứ 3 (1130).

Như vậy, lăng ông em vị Thái phó, vẫn ở chỗ cũ, chỉ xây lại tháp, khắc lại bia với lời văn của nhà sư trụ trì tại chùa Báo Quốc, không phải khắc lại nguyên bài văn bia cũ.

5. Trùng bốc triệu bi 重 卜 兆 碑. Tạo năm Thành Thái thứ 16 (1904), không ghi người soạn, nói về việc bốc chuyển lăng mộ Lưu Khánh Đàm từ ngoài bờ sông Luộc vào cánh đồng bãi trong đê. Bia tả khá kỹ về hiện trạng ngôi mộ khi đào lên, và việc chuyển táng, xây lăng mới y như lăng cũ.

Ngoài ra, tại chùa Báo Quốc, tương truyền do ông em vị Thái phó mở ra. ở đây còn lưu giữ một quả chuông, bài văn khắc trên chuông năm Cảnh Thịnh thứ 6 (1798), một tấm bia gửi giỗ, tạo năm Quý Tỵ niên hiệu Thành Thái (1893), một tấm bia có tên: Trùng tu Báo Quốc tự ký 重 修 報 國 寺 記, nội dung văn bia cho biết: chùa Báo Quốc do ông họ Lưu mở ra từ đời Lý... Điều này cho phép người đọc hiểu rằng: Tại sao tấm bia mộ tháp ông em vị Thái phó, lại được một vị sư trụ trì tại chùa Báo Quốc khắc lại.

Tại đền Lưu Xá, ngoài bản thần phả và tấm bia như đã nói trên, còn lưu giữ được bài thơ Ngự chế: Đề Báo Quốc tự của vua Lê Hiến Tông (1498-1504) và bài Bái đề của vị Phó bảng Ân khoa năm ất Vị giữ chức Đồng tri phủ, lĩnh Tri huyện huyện Diên Hà, kiêm nhiếp ấn vụ huyện Hưng Nhân là Nam Xuân Trần Huy Liên, lại bài thơ không đề của quan Nội các Hành tẩu Ân Bình Lê Quý Tiên, cùng những câu đối của các vị như Tiến sĩ Ngô Dương Đình (Ngô Thế Vinh), Hàn lâm viện trực học sĩ Đông Bình Nguyễn Vĩnh Trai, của Viên ngoại lang họ Đoàn, của Cử nhân Bùi Kim Linh, người Thụy Đình, huyện Tiên Lữ v.v... Các văn bản này đều được khắc vào đời Tự Đức (1848-1883).

Những tư liệu nêu ra trên đây cho biết khá rõ về thân thế và sự nghiệp của Lưu Khánh Đàm, một công thần đời Lý, được nhân dân địa phương thờ làm Thành hoàng và được tao nhân mặc khách đời sau qua lại thăm viếng đề thơ, làm câu đối ca tụng công trạng và đức hạnh của hai vị Thái phó họ Lưu. Trong số đó có hai tấm bia: Hoàng Việt Thái phó Lưu quân mộ Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh(1) được viết đương thời (thời Lý). Số còn lại đều được viết từ thế kỷ XV trở về sau. Trong tất cả các tài liệu ghi trên đây không ít những chi tiết ghi chép không thống nhất, hoặc khác xa nhau...

Những chi tiết tương đối thống nhất giữa các tư liệu Hán Nôm

- Lưu Khánh Đàm có người em cùng cha khác mẹ là Lưu Điều (hay Lưu Ba), quê ở An Lãng, giang Ngũ Huyện, quận Cửu Chân, châu ái (Thanh Hóa), từ đời cha là Lưu Ngữ, khoảng trước năm 1010, đã ra định cư tại xã Lưu Xá, huyện Ngự Thiên, phủ Tân Hưng (Thái Bình).

- Hai ông Đàm và Điều, ngay từ nhỏ đã được tuyển vào trong cung, sau khi trưởng thành đều có công dẹp giặc Tống, đều được giữ chức Thái phó.

- Các chức mà Lưu Khánh Đàm nắm giữ, các tư liệu trên đều ghi khá thống nhất: Quang lộc đại phu suy thành tá lý công thần Nhập nội nội thị sảnh Đô đô tri Tiết độ sứ đồng tam ti bình chương sự, Thượng trụ quốc, Khai Quốc công, thực ấp sáu ngàn hộ, thực phong ba ngàn hộ, Thái úy quốc công, gia Thái phó.

- Về tuổi thọ của Lưu Khánh Đàm đều ghi “thọ 69 tuổi”.

Những chi tiết không thống nhất giữa các tư liệu Hán Nôm

Có chỗ ghi các vị làm quan trải 3 triều kể từ thời Lý Thái Tổ; có chỗ ghi các vị làm quan trải 4 triều, kể từ triều Lý Nhân Tông; có chỗ ghi Lưu Khánh Đàm tham mưu cho Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long; có chỗ, ngay trong cùng một tấm bia (Hoàng Việt Thái phó Lưu quân mộ), ở trên ghi Lưu Khánh Đàm làm quan trải 3 triều kể từ đời Lý Thái Tông, ở phần dưới lại ghi làm quan trải 4 triều, và mất năm Tân Tỵ v.v... Có lẽ từ đó mà các văn bản đời sau có sự ghi chép không thống nhất, như:

Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ 3, tr.39b, ghi Lưu Khánh Đàm mất tháng 3 năm Bính Thìn (tháng 4 năm 1136), nhưng ở bản kỷ 4, ghi ông mất tháng 11 năm Tân Tỵ (tháng 12 năm 1161).

Việt sử thông giám cương mục, Q.5, cho biết vua Lý Nhân Tông trước khi nhắm mắt, dặn dò Thái phó Lưu Khánh Đàm và Thị lang Lê Bá Ngọc hãy dốc lòng phò tá Thái tử Dương Hoán lên ngôi, cùng nhau bên vua, hết lòng giúp đỡ. Lý Nhân Tông ở ngôi 56 năm (1072-1128).

Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập 1, Hà Nội, năm 1998, trong phần chú giải (tr.198-203) cũng lầm lẫn, chú rằng (chú số 7) Lưu Khánh Đàm làm quan trải 3 triều: Lý Nhân Tông (1072-1127), Thần Tông (1127-1137), Anh Tông (1137-1175)? ở chú số 9, làm quan trải 3 triều, chết vào năm Tân Tỵ (tức năm 1161), thọ 69 tuổi, vậy ông sinh năm 1093 ?

Như vậy, theo Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, thì Lưu Khánh Đàm sinh năm 1093, tức năm Quý Dậu niên hiệu Hội Phong 2 đời Lý Nhân Tông, mất năm 1161, tức năm Tân Tỵ niện hiệu Đại Định 21 đời Lý Anh Tông ? Điều không hợp lý và mâu thuẫn là ở chú số 5 và 6, đã chú “Lý thiên đệ nhị thế” (李 天 第 二 帝) tức triều Lý đời thứ 2 (Lý Thái Tông 1028-1054) Lưu Khánh Đàm được tiến phong “Ôn lương chi hộ”, mâu thuẫn với chú số 7: Ông làm quan trải 3 triều kể Lý Nhân Tông (1072-1127). Như thế sự việc trên có trước khi Lưu Khánh Đàm sinh (1093) những 39 năm ?

Các chú thích trên đối lập nhau, bởi vì người soạn tự ý cho năm Tân Tỵ năm mà trong văn bia ghi Khánh Đàm qua đời là năm 1161, và muốn cho hợp lý phải đẩy lùi 3 đời vua Lưu Khánh Đàm làm quan xuống từ Lý Nhân Tông (1072-1127), Thần Tông (1127-1137), Anh Tông (1137-1175) ?

Trước tình hình tam sao thất bản như vậy, tác giả bài viết này xin dựa vào 2 thác bản văn bia được biên soạn vào đời Lý Hoàng Việt Thái phó Lưu quân mộ chí Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh làm văn cứ để xem xét.

Trong 2 bài văn bia này tuy sự việc được ghi lại dài ngắn khác nhau, nhưng về các chức tước của Lưu Khánh Đàm đều ghi lại khá thống nhất, và đều ghi ông làm quan trải 3 triều kể từ Lý Thái Tông, tức Lý Thái Tông (1028-1054), Lý Thánh Tông (1054-1072), Lý Nhân Tông (1072-1128), hưởng thọ 69 tuổi. Căn cứ vào thời điểm trên, có thể khẳng định Lưu Khánh Đàm sinh vào thời Lý Thái Tông, sau năm 1028, và mất vào thời Lý Nhân Tông, trước năm 1128. Lại xét thấy trong vòng 100 năm đó có năm một Tân Tỵ, tức năm 1101 (niên hiệu Long Phù 1 đời Lý Nhân Tông), năm mà trong văn bia Hoàng Việt Thái phó Lưu quân mộ chí ghi Lưu Khánh Đàm qua đời. Vậy có thể biết được năm sinh của ông là năm Nhâm Thân niên hiệu Thiên Thành 5 đời Lý Thái Tông 1032, đúng với những gì đã khắc trong 2 bài văn bia soạn đương thời đã nêu trên.

Năm sinh năm mất của Lưu Khánh Đàm đã xác định (1032-1101), thì những chi tiết ghi về Lưu Khánh Đàm không nằm trong khung thời gian này có thể không chính xác, như:

Lưu Ngữ đem hai con gửi cho Lý Công Uẩn. Lý Công Uẩn dùng Lưu Đàm và Lưu Điều làm thủ túc.

Lý Công Uẩn được Lưu Đàm và Lưu Điều hộ vệ lên ngôi, mà phong cho ông Đàm làm Quang lộc đại phu, hầu cận bên cạnh; ông Điều làm Trung úy trông coi cấm binh tuần phòng trong thành.

Lưu Khánh Đàm tham mưu cho Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng (1010).

Lý Thái Tổ thấy hai anh em ông có công dẹp giặc Tống, và bày kế dời đô, mà phong cho Lưu Đàm làm Khai quốc công thần, Thái phó, sai dạy Thái tử Phật Mã; Lưu Điều làm Chỉ huy sứ, nhậm chức ở đạo Hải Dương (Lý triều công thần nhị vị Thái phó Lưu đại vương ngọc phả lục). Hay:

Cuối đời Nhân Tông, Lưu Khánh Đàm làm đến Thái úy nhận di chiếu phò Thần Tông lên ngôi. Ông làm quan trải 4 đời vua. Không có sự việc này, vì ông đã mất năm Tân Tỵ 1101, phải 27 năm sau mới vào cuối đời Nhân Tông (1072-1128), không thể sống lại mà phò Thần Tông lên ngôi được (Nhị Lưu Thái phó sự trạng ký); v.v...

Tóm lại, với những tư liệu hiện có ở địa phương, nếu gạt bỏ đi những chi tiết không hợp lý thì giúp ta hiểu khá kỹ về Lưu Khánh Đàm và Lưu Điều, công thần triều Lý, có công dẹp giặc Tống(2).

Cụm đền và chùa Lưu Xá này đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia hiện đã xuống cấp, cần được tu sửa để trở thành điểm hẹn tốt cho những khách hành hương muốn tìm về nguồn cội.

L .G

CHÚ THÍCH

(1) Bia dựng tại làng Phủ Lý, phủ Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa; được tạo vào năm thứ 5 niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ đời Lý Nhân Tông (1126). Nội dung theo Thơ văn Lý Trần, tập 1, Nxb. KHXH, H. 1977, tr.421 cho biết: Thiền sư trụ trì tại chùa Hương Nghiêm là em họ Thái phó Lưu Khánh Đàm. Vua Lý Thái Tông (1028-1054) tuyển chọn người trong quận, thấy Lưu Khánh Đàm tướng mạo khôi ngô khác thường, nên chọn vào nội đình.

Khi vua Thánh Tông trị vì, Lưu công luôn được tin dùng. Đến đời Nhân Tông, nhà vua thấy ông có công giúp ba triều liền phong cho ông làm Nhập nội nội thị sảnh Đô đô tri kiểm hiệu Thái phó, kiêm Cung dịch sứ đại tướng quân, Kim tử quang lộc đại phu, Thượng trụ quốc, Khai Quốc công, thực ấp sáu ngàn bảy trăm hộ, thực phong ba ngàn hộ.

(2) Xin xem thêm Lâm Giang: Tấm bia đời Lý viết về: Lưu Khánh Đàm, Tạp chí Hán Nôm, số 4 năm 2000. ở đó tôi có nhầm niên hiệu Thiên Thuận thành niên hiệu Thuận Thiên, nhân đây xin sửa lại Thiên Thuận.

TB

QUÁN VIÊN TẨU

PHẠM ĐỨC DUẬT

Đọc lời tựa Nghệ văn chí, chúng ta thấy Lê Quý Đôn rất khó chịu về tình trạng vốn văn hóa dân tộc bị mất mát bởi cách quản lý và giữ gìn sách vở quá sơ sài: “Không đặt hẳn các cục coi riêng về sách vở giấy tờ, không đặt riêng các quan chuyên trách việc thu tàng, coi giữ các sách. Đến việc so sánh từng bản và sao chép ra, việc phơi sách, chứa sách đều không được quy định thành phép riêng, lệ riêng”. Ông còn chỉ trích những ai chưa thấy hết giá trị của sách, chưa biết sử dụng sách một cách toàn diện, không thận trọng trong việc sao chép: “Các người đi học từng thời cũng chỉ mua, chứa tập hợp các sách để đi thi, để cố thi đậu, thấy các sách lạ của các đời trước để lại mà không liên quan đến môn học khoa cử thì cũng làm ngơ, không sao chép lấy. Gián hoặc có người chịu khó sao chép thì cũng coi nhẹ việc hiệu thù. Hễ có người nào thích chứa sách cổ, thì người ấy lại giữ làm của riêng, cất kĩ không đưa cho mọi người xem, cho nên việc đi tìm sách khó lắm. May ra, tìm thấy quyển sách nào thì viết lầm, viết sai, bỏ sót, bỏ thiếu, đến nỗi không thể đoán được thế nào là đúng. Đó là điều người có kiến thức một chút phải thở dài than tiếc”.

Ở thế kỉ XVIII, gia đình Lê Quý Đôn là một trong những trung tâm lưu trữ sách khá lớn. Và cũng là nơi đi lại thâm giao, tìm kiếm sao chép sách vở đời xưa của nhiều trí thức thời đó ở vùng Sơn Nam. Đến thế kỉ XIX, vùng Thái Bình, Nam Định còn chứng kiến một gia đình trí thức yêu nước, kiêm một phú hào nổi tiếng mà trong nhà chứa hàng nghìn cuốn sách Hán Nôm và hàng vạn bản in khắc gỗ. Đó là gia đình Nguyễn Mậu Kiến ở làng Động Trung, huyện Chân Định, nay thuộc xã Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Nhưng từ đầu thế kỉ XX, khi thực dân Pháp xóa bỏ thi cử bằng chữ Hán, văn tự hành chính thay thế bằng chữ Pháp và chữ Quốc ngữ thì sự lưu hành sách Hán Nôm cũng bị xem nhẹ. Sau hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mĩ xâm lược, sách vở chống đế quốc Mỹ xâm lược, sách vở Hán Nôm ở các địa phương trong cả nước bị thiêu hủy và mất mát không sao kể xiết.

Từ sau ngày hòa bình được lập lại ở miền Bắc (tháng 7 - 1954), chúng tôi về làng Vũ Lăng, huyện Kiến Xương, nay thuộc xã Vũ Lăng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, còn được tiếp xúc với một số những nhà Nho chuyên sưu tầm sao chép sách vở, nêu một tấm gương chuyên cần với tinh thần trách nhiệm cao trước di sản văn hóa dân tộc. Người đầu tiên phải kể đến là cụ Thái Xương Lăng. Cụ tên thật là Trần Đình Xước, em ruột cụ Tú tài Trần Đảng. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, cụ Xước được bầu làm Tri sự, nên người làng gọi là cụ Tri Xước. Cụ lấy đạo hiệu là Quang Đạo Đường, bút danh là Thái Xương Lăng, để biểu hiện ba địa danh quê hương: Thái Bình, Kiến Xương, Vũ Lăng. Gia đình cụ khi ấy có tới gần 1000 cuốn sách đủ mọi môn loại: Nho, y, lí, số. Đáng quý là các bộ lịch sử dân tộc, thơ văn yêu nước, thơ văn trào phúng của địa phương trong huyện, tỉnh và tỉnh khác được cụ sưu tầm, tập hợp lại. Đặc biệt, cụ Thái Xương Lăng tàng trữ được trên 30 sách in kinh giáng bút chữ Nôm như Đồ thư kinh, Cảm đàm chân kinh, Nam phát anh hoa chân kinh,... hoàn toàn bằng văn vần dễ đọc, dễ thuộc. Sách Đồ thư kinh được khắc ván in năm Giáp Tý, Khải Định thứ 9 (1924), khổ 20 x 13cm, gồm 101 tờ, do ông Lý Ru, tức Đồ Ru, tự là Đỗ Chí Đạt người xã Nam Hồng, huyện Tiền Hải xuất tiền để in. Sách Cảm đàm chân kinh in năm Khải Định thứ tư (1919) ở một thiện đàn huyện Thư Trì. Sách Nam phát anh hoa chân kinh in tháng trọng xuân, năm Giáp Dần (1914). Các sách kinh trên gồm những bài thơ Nôm khêu gợi tinh thần yêu nước thương nhà, đề cao những tấm gương của các anh hùng lịch sử như các bài Trưng nữ vương thi, Lệ Hải Bà vương thi (Triệu ẩu), Bố cái đại vương thi, Tiền Lý Trương Hống đại vương thi, Tiền Lý Trương Hát đại vương thi, Hưng Đạo đại vương thi, Phạm Điện súy khuyến tứ dân ái quốc, Nguyên Từ quốc mẫu thi...

Trưng nữ vương thi làm theo thể Đường luật:

Vì ai nên thiếp phải ra tay,
Hơn sáu mươi thành gió thổi bay.
Thằng Hán kinh hơi quăng giáo mác,
Đứa Tô trông bóng mất râu mày.
Đã xoay trời nọ sao triều Bắc,
Hà hoạn hồ kia bóng ngả Tây.
Khăn yếm phận hèn còn biết tủi,
Hỡi người tai mắt nghĩ sao đây ?

Đọc bài Lệ Hải Bà vương thi, chúng ta thấy khí phách của nhân dân ta ở thế kỉ thứ III qua hình tượng nữ anh hùng dân tộc Triệu Thị Trinh:

Chó Ngô từng lũ chạy lông nhông,
Phải dở can trường giữ núi sông.
Cung kiếm đeo vào thân gái trẻ,
Tu mi rửa hộ mặt đàn ông.
Thành kia ngứa tiết dun đè nát,
Trận nọ căm gan phá vỡ tung.
Ngoảnh lại thử coi đời thiếp phụ,
Tam bành có nổi mụ lên không !

Rất nhiều bài cổ vũ, khích lệ những trang tuấn kiệt qua những bài ngợi ca Phù Đổng Thiên vương, Lý Ông Trọng, Yết Kiêu, Dã Tượng... hoặc phản ảnh nỗi thống khổ của nhân dân qua bài Tuất cùng dân, Giáng dân tình. Để khích lệ kẻ sĩ, như bài: Sĩ bất khả hoằng nghị văn, Khuyến thiếu niên tiến học văn và khuyên tuổi trẻ trong nước hãy nêu cao khí phách của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, trong bài Hà Ninh tổng đốc Hoàng tướng công thi:

Bốn cõi xây thành xấu mặt ai,
Thôi thôi trời lại đổ cho trai.
Râu mày chớ trễ anh hùng nát,
Cung kiếm còn khoe vũ nghệ tài.
Chết nửa non sông lòng chết nửa,
Chia hai trung hiếu gánh chia hai.
Sống nhơ sống nhuốc kìa ai đấy,
Hỏi cớ làm sao lại đổi vai ?

Ngoài những sách sưu tầm được và mượn sao chép lại, cụ Thái Xương Lăng còn sưu tầm viết ra chữ Nôm hàng nghìn câu phương ngôn, tục ngữ, ca dao, dân ca lưu truyền ở địa phương gồm hơn 200 trang trên giấy bản khổ 13x19cm, lấy tên là sách Phương ngôn lược ký. Tuy cách trình bày còn chưa khoa học, song sách đã đóng góp cho người sưu tầm nghiên cứu văn học dân gian có thêm tài liệu để so sánh đối chiếu rất bổ ích. Xin dẫn ra đây Lời nói đầu của sách Phương ngôn lược ký để chúng ta thấy tấm lòng ưu ái giàu tinh thần dân tộc của một cố lão vùng nông thôn hẻo lánh ở đồng bằng Bắc Bộ:

“Quang Đạo Đường phụng ghi lại những câu phương ngôn ngạn ngữ của các tiền nhân. Nhiều câu có nhân hậu ôn lương, đủ cả trung hiếu tiết nghĩa, nhưng cũng lắm câu phong hoa tuyết nguyệt. Hay thì khen, hèn thì chê. Nếu không ghi lại thì sợ lâu ngày rồi thất lạc cả. Những câu ngọc đúc vàng nung, hoa thêu gấm dệt, có các vị trung thần liệt nữ nước nhà, tôi cũng muốn ghi ra từng vị, nêu ra từng bài. Nhưng hiềm vì cô lậu quả văn, không tường tận được cả. Vậy nên nhặt lấy từng câu, thu lấy từng đoạn, chia ra làm các “luân” là thiên địa, nhân vật, phong hóa, tập tục, tổng vào chia làm sáu bộ, gọi là Phương ngôn lược ký, có chính phong và biến phong, có thể khuyến thiện trừng ác để sau này người người cùng biết tổ tông ta khai cơ lập nghiệp phong hóa vẫn còn. Ngạn ngữ thì nhiều, không thể kể xiết được. Nay tôi nhặt ra mười phần chưa được một, có Hán tự và có Quốc âm gửi lên nhà báo nhờ liệt vị bổ thêm và nhuận sắc lại cho, thực là châu báu vô cùng.

Nay kính tự

Năm một nghìn chín trăm sáu mươi chín.

Thái Xương Lăng, Quán Viên Tẩu”.

“Quán Viên Tẩu” nghĩa là ông già tưới cây. Ông già tưới cây ở làng Võ Lăng, Thái Bình đã tạ thế gần 20 năm nay, thọ gần 90 tuổi. Sách vở của cụ đã tản mát đến nhiều gia đình con cháu ở địa phương, song công lao đóng góp của cụ về tư liệu nghiên cứu văn hóa dân gian, lịch sử địa phương và nhiều lĩnh vực khác vẫn không hề mất. Các thế hệ cán bộ nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn có tâm huyết vẫn còn tiếp tục thừa kế những tinh hoa tri thức dân tộc được chắt chiu của “ông già tưới cây” Quang Đạo Đường - Thái Xương Lăng để lại.

P.Đ.D

TB

VỀ VĂN BẢN SÁCH
THÁI BÌNH PHONG VẬT CHÍ

NGUYỄN THÚY NGA

Trong kho tàng di sản Hán Nôm có một loại sách có giá trị khá đặc biệt. Đó là những sách viết về địa lý, phong tục, nhân vật, thổ sản v.v... thường được gọi chung là sách địa chí. Một số sách viết về địa lý toàn quốc như: Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định; Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí lược do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn v.v... Một số sách viết về từng miền, trấn, tỉnh như Bắc thành địa dư chí của Lê Chất, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức v.v... Viết về từng tỉnh có: Hải Dương địa dư, Bắc Ninh tỉnh chí, Sơn Tây tỉnh chí, Hưng Yên nhất thống chí, Hưng Hóa chí lược, Nam Định tỉnh địa dư chí, Hoan Châu phong thổ chí, Nghệ An ký, Thanh Hóa tỉnh chí v.v.... Viết về từng huyện có: Can Lộc huyện phong thổ chí, Vĩnh Lộc huyện chí v.v... Viết về từng xã có: Trà Lũ xã chí, Thiện Đình xã chí v.v... Đó là loại sách địa phương chí.

Thái Bình phong vật chí là một trong những sách nằm trong chủ đề địa chí nói trên. Ngoài ghi chép về cương giới, địa lý hành chính, phong tục, nhân vật, núi sông, thổ sản v.v... như các sách địa chí thông thường khác, Thái Bình phong vật chí còn có một nội dung rất có giá trị mà những sách cùng loại không có, đó là phần ghi chép khá kỹ về những cuộc nổi dậy của nông dân tỉnh Thái Bình thời Cần Vương chống Pháp.

Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy thông tin về tác giả và nội dung thể hiện ở các văn bản không giống nhau. Để thuận lợi cho việc nghiên cứu, sử dụng, chúng tôi xin trình bày tình hình văn bản và giới thiệu sơ lược nội dung của sách này.

A. Tình hình văn bản:

Thái Bình phong vật chí hiện còn 3 bản, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (NCHN) có 2 bản, Thư viện Quốc gia (TVQG) có 1 bản. Tất cả đều là sách chép tay. Cụ thể từng văn bản như sau:

1. Bản TVQG, ký hiệu R.626. Tên sách: Thái Bình phong vật chí. Sách dày 60 tờ, khổ 29x16cm. Chữ viết chân phương tên loại giấy khá cũ, dễ đọc. Tờ đầu sách có dấu "Phan gia trân tàng" (lưu giữ ở nhà họ Phan) và dòng chữ 先 興 府 知 府 范 文 樹 肅 稟 (tờ bẩm của Tri phủ phủ Tiên Hưng là Phạm Văn Thụ). Nội dung tờ bẩm nêu việc vâng mệnh viên công sứ đã cho người đi khắp các nơi hỏi han xem xét, lại tra cứu trong sách cổ v.v... để biên soạn địa dư chí toàn tỉnh Thái Bình. Phàm những điều nghe biết thì ghi chép lại rồi trình lên Lương đại nhân là quan Hộ bộ Thượng thư đã trí sĩ kiểm duyệt, gọi là Thái Bình phong vật chí.

Sau đó là phần Mục lục Toàn tỉnh tình thế lợi bệnh luận (bàn về tình thế thuận lợi và khó khăn của toàn tỉnh). Nội dung chính gồm các phần sau: 1/ Tỉnh hạt cổ kim diên cách, 2/ Phong tục, 3/ Nhân vật, 4/ Cổ tích dị văn, 5/ Chinh chiến sự trạng, 6/ Xuyên. Cuối cùng là phần phụ lục, chép một số bài tấu của Đặng Kim Toán (năm Tự Đức 5); Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết (năm Tự Đức 36); chiếu của vua Tự Đức v.v...

Trong số này chỉ có bản tâu của Giám sát ngự sử Đặng Kim Toán là có nội dung liên quan đến tỉnh Thái Bình. Bản tâu trình bày về việc sông ngòi đê điều của tỉnh Thái Bình sau khi ông vâng mệnh đi khám năm Tự Đức thứ 5 (1852). Những bản tấu ghi sau có thể hiểu là được chép thêm vào cuối sách mà thôi.

2. Bản Thư viện Viện NCHN

- Bản A.1263. Tên sách: Thái Bình phong vật chí, dày 45 tờ, khổ 31x21cm, chữ viết chân phương, dễ đọc, có dấu chấm câu và khuyên bằng bút mực đỏ. Không có tờ bẩm, không có tên người soạn, không có mục lục. Nội dung chính gồm các phần sau: 1/Tỉnh hạt cổ kim diên cách, 2/ Phong tục, 3/ Nhân vật, 4/ Cổ tích dị văn. Cuối phần này có thêm 鐵 樹 引 (Lời dẫn về cây lim) và 榕 樹 引 (Lời dẫn về cây bàng), 5/ Chinh chiến sự trạng, 6/ Toàn tỉnh tình thế lợi bệnh luận.

- Bản A. 2361. Tên sách: Thái Bình phong vật chí, dày 35 tờ, khổ 28x15cm. Sách viết bằng 2 kiểu chữ trên 2 loại giấy khác nhau. Từ tờ 1-19b: viết thảo, đôi tờ có dấu chấm câu và khuyên bằng bút son, giấy khá mới. Từ tờ 20a- 36a: chữ đá thảo, không có dấu chấm câu hoặc dấu khuyên. Chất giấy đen hơn và dày hơn, mực đậm hơn.

Không ghi người soạn, không có tờ bẩm, không có mục lục. Nội dung chính gồm các phần sau: 1/ Tỉnh hạt cổ kim diên cách, 2/ Phong tục, 3/ Nhân vật, 4/ Cổ tích dị văn. Cuối phần này có thêm 鐵 樹 引 (Lời dẫn về cây lim) và 榕 樹 引 (Lời dẫn về cây bàng), 5/ Chinh chiến sự trạng, 6/ Toàn tỉnh tình thế lợi bệnh luận.

Hiện trong kho của Viện NCHN còn có 2 bản mang tên Thái Bình thông chí (hoặc Thái Bình tỉnh thông chí). Tuy tên sách hơi khác nhưng có cùng nội dung và có ghi tác giả là Phạm Văn Thụ, nên chúng tôi xác định đó cũng chính là những dị bản của sách này.

- Ký hiệu A.1754. Tên sách Thái Bình thông chí màu đen in trong ô nền đỏ, bìa màu vàng, dày 53 tờ, khổ 30x17cm. Chữ viết chân phương, dễ đọc, có dấu chấm và khuyên bằng bút son. Chất giấy hơi cũ. Tờ đầu sách ghi: 興 安 省 白 衫 社 副 榜 鴻 臚 寺 少 卿 領 先 興 府 知 府 范 文 樹 撰 (Phạm Văn Thụ, người xã Bạch Sam tỉnh Hưng Yên, đỗ Phó bảng, hàm Hồng lô tự thiếu khanh lĩnh Tri phủ phủ Tiên Hưng soạn). Không có tờ bẩm. Nội dung chính gồm các phần sau:1/Tỉnh hạt cổ kim diên cách, 2/ Phong tục, 3/ Nhân vật, 4/ Cổ tích dị văn. Cuối phần này có ghi: 附 錄 花 萍 記 (Phụ lục hoa bình, tục gọi là bèo hoa dâu) và 鐵 樹 引 (Lời dẫn về cây lim), 5/ Phỉ cừ chiến trận, 6/ Thái Bình toàn tỉnh thế lợi bệnh tổng luận, 7/ Giang hà, 8/ Lý lộ, 9/ Cầu cống, 10/ Chợ lớn, 11/ Kỹ nghệ, 12/ Thổ sản.

Dòng cuối cùng của sách ghi Thái Bình thông chí chung tất.

- Ký hiệu A. 82. Tên sách: Thái Bình tỉnh thông chí, dày 56 tờ, khổ 28x17cm. Mép sách có dòng chữ ghi tên sách và đánh số tờ. Chữ viết chân phương, dễ đọc, có dấu chấm và khuyên bằng bút mực hồng. Không có tờ bẩm, không có mục lục. Nội dung chính gồm các phần sau: 1/ Tỉnh hạt cổ kim diên cách, 2/ Phong tục, 3/ Cổ tích dị văn, 4/ Nhân vật, 5/ Chinh chiến sự trang, 6/ Toàn tỉnh tình thế lợi bệnh tổng luận, 7/ Sơn xuyên, 8/ Lý lộ.

Cuối sách ghi dòng chữ: "Ngày 12 tháng 6 năm Thành Thái 12, Tri phủ phủ Tiên Hưng Phạm Văn Thụ tập soạn".

Ngoài ra, tại Thư viện Paris (Cộng hòa Pháp) còn có 1 bản mang tên Thái Bình phong vật chí, ký hiệu EFEO.II/6/900. Chúng tôi chưa có điều kiện tiếp xúc nên xin chuyển ghi thông tin này từ sách Di sản Hán Nôm, thư mục đề yếu(1).

Như vậy, tổng cộng Thái Bình phong vật chí hiện còn 6 bản, 1 bản tại TVQG, 4 bản tại Thư viện Viện NCHN và 1 bản lưu giữ tại Paris. 4 bản có tên chung "phong vật chí" là R.626, A.1263, A.2361 và EFEO.II/6/900; 2 bản có tên chung "thông chí" là A.1754 và A.82.

Riêng bản R.626 có tờ bẩm, tên người soạn và phần Toàn tỉnh tình thế lợi bệnh luận đưa lên đầu sách; phần phụ lục gồm các bài tấu và chiếu ghi ở cuối sách, nội dung chính gồm 6 phần.

Hai bản cùng nhóm "thông chí" là A.1754 và A.82 có ghi tên tác giả, năm soạn sách. Thứ tự các phần không giống nhau và nội dung cũng có chỗ khác nhau: Sau phần Cổ tích dị văn, bản A.1754 ghi thêm Bài ký về bèo hoa dâu Lời dẫn về cây lim. Bản A.82 lại ghi 2 bài dẫn về cây lim và cây bàng ở cuối mục Nhân vật. Bản A.1754 nhiều hơn A.82 các phần: Cầu cống, Chợ lớn, Kỹ nghệ, Thổ sản.

Hai bản cùng nhóm "phong vật chí" là A.1263 và A.2361 đều không có tên tác giả, không có năm tháng soạn sách và 6 phần của nội dung ghi khá khớp nhau cả về thứ tự lẫn tên gọi. Cuối phần Cổ tích dị văn cả 2 bản đều ghi Lời dẫn về cây lim Lời dẫn về cây bàng.

Chúng ta có thể thấy tính chất phức tạp và không thống nhất của văn bản. Đối soát kỹ nội dung từng phần, tính chất ấy càng rõ rệt. Thứ tự sắp xếp các mục nhỏ trong từng phần ở mỗi sách khác nhau, như phần Diên cách, bản R.626 bắt đầu là phủ Kiến Hưng, nhưng các bản khác lại ghi phủ Tiên Hưng trước. Phần Phong tục, các bản đều theo thứ tự huyện Trực Định, Vũ Tiên, Thư Trì v.v... thì bản A. 1754 lại ghi huyện Thần Khê, Diên Hà, Hưng Nhân v.v... Phần Nhân vật, bản R.626 ghi Nguyễn Đăng Ngạn, Nguyễn Nghĩa Hưu, Bùi Viện, Hoàng Bá Du v.v... trong khi bản A.1754 ghi Nguyễn Khắc Khoan, Hoàng Công Kỳ, Nguyễn Hán Đình, Nguyễn Bá Dương; bản A. 1263 ghi Nguyễn Đăng Ngạn, Nguyễn Nghi, Nguyễn Đăng Phong, Phan Đình Sĩ v.v...

Về nội dung xuất nhập khá nhiều. Chúng tôi xin đơn cử sự khác nhau ở một vài đoạn trong các bản như sau:

1/ 直 定 縣 古 名 鄧 州 黎 改 名 真 (1) 定 本 朝 因 之 成 泰 元 年 已 國 諱 更 名 直 定 縣 蒞 前 在(2) 程 江 (R.626, A.1263 và A.1754)

(1) 直 (A.82)

(2) 前 者 蒞 在 (A.82)

(Đoạn viết về huyện Trực Định phủ Kiến Xương, phần Diên cách).

2/ 陳 曰 隆 興 府 潤 胡 改 賓(1) 興 屬 明(2) 曰 鎮 蠻 府 移 居 新 居(3)

本 朝 改 先 興 屬 興 安 省 (R.626)

(1) 新 (A.82, A.1263 và A.1754

(2) 偽 西 (A.82)

(3) Thêm 5 chữ 黎 復 名 新 興 (A.82, A.1263 và A.1754)

(Đoạn viết về huyện Thần Khê phủ Tiên Hưng, phần Diên cách).

3/ 阮 登 彥 直 定 洞 中 人 (1) 朗 郡 公 (2) 公 微 時 就 于 升 龍 成 聖 開 祠 因 黎 朝 有 寇 情 願 戰 萍 之 即 封 郡 公 及 卒 封 壯 毅 大 王 配 入 鄉 祠.

(1) A.82, A.1263 và A.2361 chỉ có đến đây.

(2) A.1754 thêm 3 chữ này.

(Đoạn viết về Nguyễn Đăng Ngạn, phần Nhân vật).

v.v...

Căn cứ vào ghi chép của bản R.626, A.1754 và A.82 thì sách do Phạm Văn Thụ soạn. Phạm Văn Thụ (1858-1930) người xã Bạch Sam huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên, 35 tuổi đỗ Phó bảng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Thành Thái 4 (1892), làm quan Liêm phóng sứ ở Phủ thống sứ, sau làm Tri huyện huyện Tiên Hưng, thăng Tổng đốc Nam Định, sau vào Huế nhậm chức Thượng thư bộ Hộ. Như tờ bẩm ghi ở đầu bản R.626, ông viết Thái Bình phong vật chí theo yêu cầu của viên công sứ khi nhậm chức Tri phủ phủ Tiên Hưng. Cuối bản A.82 ghi rõ năm tháng soạn: "Ngày 12 tháng 6 năm Thành Thái 12 [1900] ".

Như vậy, tác giả và niên đại đã rõ ràng. Nhưng vấn đề ở đây là: tại sao một tác phẩm mới hoàn thành vào đầu thế kỷ XX lại xảy ra tình trạng lộn xộn về văn bản và nội dung như vậy ? Và khi cần dùng thì nên lấy bản nào làm bản nền để khảo dị với các bản còn lại ?

Qua đối chiếu tổng thể và đối soát nội dung (xem ví dụ nêu trên), chúng tôi đi đến nhận xét bước đầu: 5 văn bản hiện còn chia làm 4 nhóm: nhóm 1: R.626; nhóm 2: A.1754; nhóm 3: A.82; nhóm 4: A.1263 và A.2361. Bốn nhóm này, về nguyên tắc thì không có cùng một bản gốc vì như chúng tôi đã trình bày trên, các mục không giống nhau về thứ tự cũng như không trùng khớp nhau về nội dung. Chúng tôi cho rằng, có lẽ bản R.626 là bản có trước, sau đó một số người đã dựa vào nội dung mà chỉnh lý lại trước khi sao chép ra một bản mới. Cụ thể là người này đã bỏ đi một số thông tin ở phần đầu sách như tờ bẩm (bao gồm cả tên người soạn), tấu, chiếu ở cuối sách và đã bổ sung thêm một số chi tiết mà họ biết hoặc mới sưu tầm được (dẫn về cây lim, cây bàng, bèo hoa dâu). Còn người kia lại cho rằng sách còn thiếu các mục đường sá, cầu cống, chợ, kỹ nghệ, thổ sản nên đã bổ sung cho đủ v.v... Trong từng phần, mỗi người lại thêm bớt, sửa đổi câu, chữ, thậm chí cả đoạn theo ý riêng của mình. Ví dụ phần Nhân vật, bản R.626 có 41 người, bản A.1754 có 49 người, bản A.1263 lại có 40 người v.v...

Trong tình hình văn bản có phần phức tạp như vậy, chúng tôi cho rằng khi cần, có thể sử dụng bản R.626 làm bản chính để đối chiếu khảo dị với bản A1754 và A.82.

B. Nội dung:

Thái Bình phong vật chí cung cấp cho chúng ta đầy đủ những thông tin về phủ, huyện, xã thuộc tỉnh Thái Bình thay đổi qua các đời; tiểu sử của một số nhân vật nổi tiếng trong lịch sử như Quách Đình Bảo, Quách Hữu Nghiêm, Lê Quý Đôn, Nguyễn Hán Đình, Lương Quy Chính, Hoàng Đình Du, Doãn Uẩn, Doãn Khuê, Nguyễn Quang Bích v.v... Qua tác phẩm, Thái Bình hiện lên như một vùng đất địa linh nhân kiệt, có phong tục thuần hậu, có truyền thống Nho học, nhiều người đỗ đạt. Hai huyện Thần Khê(2), Diên Hà(3) nổi tiếng là nơi danh thắng. Câu ca dao: "Có phải con mẹ con cha, thì sinh ra đất Diên Hà, Thần Khê" có lẽ là lấy từ ý phong tục thuần hậu gần với cổ. Huyện Trực Định(4) từ xưa giàu thịnh, trong huyện có nhiều người văn chương Nho học. Tổng đốc Đỗ Điển có thơ vịnh như sau: "Trình Phố toàn hương đa hiển đạt, Vũ Lăng nhất ấp tận lương dân" (Làng Trình Phố nhiều người hiển đạt, ấp Vũ Lăng toàn là dân lành) v.v...

Thái Bình phong vật chí còn có một nội dung rất có giá trị, đó là phần viết về những cuộc khởi nghĩa nông dân trong tỉnh mà trong sách ghi là Chinh chiến sự trạng hoặc Phỉ cừ chiến trận (A.1754).

1. Cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành năm Minh Mệnh 1 (1820).

2. Cuộc nổi dậy của Lê Nguyên Quang năm Tự Đức 36 (1883).

3. Cuộc nổi dậy của Bang Tốn năm Hàm Nghi 1 (1885).

4. Cuộc nổi dậy của Đốc Điên năm Thành Thái 1 (1889).

5. Cuộc nổi dậy của Đốc Nhượng từ năm Hàm Nghi 1 (1885) đến Thành Thái 3 (1891).

6. Cuộc nổi dậy của Lĩnh Hoan năm Hàm Nghi 1 (1855).

7. Cuộc nổi dậy của Bá Điền năm Hàm Nghi 1 (1885).

8. Cuộc nổi dậy của Lĩnh Nhàn năm Tự Đức 36 (1883)

9. Sư chùa Lãng Đông huyện Trực Định năm Thành Thái 9 (1897).

Đứng trên quan điểm của giai cấp phong kiến, tác giả Phạm Văn Thụ đã mô tả cuộc nổi dậy của nông dân Thái Bình thời kỳ này như những cuộc nổi loạn, cướp bóc (có cuộc khởi nghĩa do chính Phạm Văn Thụ góp sức bắt người cầm đầu như sư chùa Lãng Đông). Nhưng những thông tin đó lại chứa đựng nhiều ý nghĩa lớn:

Thứ nhất: khắc họa chân dung những người đứng đầu các cuộc nổi dậy của nông dân thật sinh động. Phan Bá Vành hiện lên như một tướng lĩnh xuất chúng: Sinh ra đã có tướng lạ, tay dài quá gối, dũng mãnh hơn người, nhiều mưu lược, có thể vịn tay nhảy lên nóc nhà, vượt tường cao v.v. Năm Minh Mệnh tụ tập bè đảng rất đông, trong đó có nhiều người tài giỏi, tự xưng vương. Bấy giờ có câu ca rằng: "Trên trời có ông sao Tua, ở dưới hạ giới có vua Ba Vành" v.v...

Thứ 2: Qua mối liên hệ giữa những người đứng đầu mà Phạm Văn Thụ mô tả như: Lĩnh Bí, Lĩnh Hoan, Lĩnh Chính, Lĩnh Gạo, sư chùa Thiền Quan, Đốc Nhượng, Đốc Nhàn tụ tập quân theo Bang Tốn nổi dậy; Bang Tốn, Đốc Nhàn nổi lên theo Đề đốc Tạ Hiện v.v... đã phản ánh được sự nổi dậy rộng rãi, đồng loạt, có sự liên kết với nhau như chính nhà sư chùa Lãng Đông đã nói: "Các tỉnh hẹn đêm ấy nhất loạt nổi dậy"(各 省 相 約 是 夜 一 齊 並 起).

Thứ 3: Phản ánh tầng lớp tăng ni tích cực tham gia nổi dậy chống Pháp. Trong số 9 cuộc nổi dậy mà Phạm Văn Thụ ghi được thì đã có 2 cuộc do nhà sư đứng đầu. Đó là thiền sư tên là Xô ở chùa Thiền Quan huyện Đông Quan, tập hợp được hơn trăm người, dựng cờ: "Nam vô Thiền Quan đại tướng quân", cùng Bang Tốn hợp đảng đốt phá công đường. Thiền sư trụ trì chùa Lãng Đông huyện Trực Định tụ tập quân binh, nhân ban đêm kéo đến đốt cháy tòa công sứ ở thành tỉnh.

Thứ 4: ảnh hưởng của các cuộc nổi dậy của nông dân tỉnh Thái Bình. Những cuộc nổi dậy này đều tự phát, nổ ra trong phạm vi hẹp, kéo dài không lâu và đều thất bại nhưng đã làm cho quân Pháp và quan quân triều đình nhà Nguyễn phải lo sợ. Cuộc nổi dậy của Đốc Điên được Phạm Văn Thụ mô tả như sau: "phục binh các nơi trong nhà ngoài vườn, nhất tề nổ pháo. Quý quan(5) trúng đạn, bị giặc cắt đầu vứt đi.... quan quân phải quàn tạm thây, mấy tháng sau mới tìm thấy thủ cấp ở cánh đồng xã Thọ Cao. Bấy giờ các quý quan nghe chuyện ấy rất khiếp đảm"(6) v.v...

Tóm lại, Thái Bình phong vật chí là tài liệu quý, nó cung cấp nhiều thông tin cần thiết để có thể tìm hiểu địa danh lịch sử, phong tục tập quán, tiểu sử một số nhân vật, các cuộc khởi nghĩa nông dân chống Pháp hồi cuối thế kỷ XIX ở một tỉnh lớn nhất vùng đồng bằng Bắc Bộ.

N.T.N

CHÚ THÍCH

(1) Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư lục đề yếu, Đồng chủ biên: PGS. Trần Nghĩa, Prof. Franỗois. Nxb. KHXH, H. 1993. T.3, tr.118.

(2) Thần Khê: Đời Lý về trước là đất hương Đa Cương. Đời Trần về sau là huyện Thần Khê. Nay thuộc đất huyện Hưng Hà.

(3) Diên Hà: Tên huyện đặt từ đời Trần. Nhà Lê đặt thuộc phủ Tân Hưng (sau là Tiên Hưng). Năm 1977 hợp nhất với huyện Hưng Nhân thành huyện Hưng Hà. Nay thuộc huyện Hưng Hà.

(4) Trực Định: xưa là huyện Chân Định. Nay thuộc đất huyện Kiến Xương.

(5) Quý quan: chỉ quan người Pháp.

(6) Truyện Ngụy Đốc Điên.

TB

NGƯỜI VẼ BẢN ĐỒ QUẦN ĐẢO HOÀNG SA
THẾ KỶ XVII - ĐỖ BÁ CÔNG ĐẠO VỚI BẢN ĐỒ BÃI CÁT VÀNG (HOÀNG SA)

TRẦN BÁ CHÍ

Hiện nay, Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội) còn giữ được sách Hồng Đức bản đồ (ký hiệu A.2499), trong đó có Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư - tờ 27a. Qua tập bản đồ ấy, ta thấy tên Đỗ Bá Công Đạo ghi vào lạc khoản của 2 phần như sau:

Trong sách Hồng Đức bản đồ, sau khi trình bày 13 bản đồ vẽ hình thế 13 xứ thừa tuyên đời Lê Thánh Tông (1460-1497) và một bản đồ nước ta không có tiêu đề và niên đại, người ta thấy có phần Mục lục tổng quát bản đồ nước ta (tờ 27a) tổng hợp số phủ, huyện, châu, xã thôn... thuộc 13 thừa tuyên và ghi tác giả là: “Nho sinh trúng thức họ Đỗ Bá tự là Công Đạo quê xã Bích Triều huyện Thanh Giang phủ tập”. (Phủ  là một khiêm từ có nghĩa như cẩn, kính ít dùng; chứ không phải tên hiệu của tác giả là Đạo Phủ).

Đến một phần quan trọng là Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư vẽ 4 tuyến đường khởi từ Thăng Long đi ra bốn phía. Mở đầu phần này có “Lời dẫn Thiên Nam Tứ Chí lộ đồ thư” (tờ 30a) và ghi tác giả là: “Nho sinh trúng thức họ Đỗ Bá tự Công Đạo người xã Bích Triều huyện Thanh Giang phủ soạn” (Phần trên tác giả ghi phủ tập có nghĩa là tập hợp tác phẩm người trước để biên tập lại. Còn phần sau ghi là phủ soạn tức là phần chính do mình soạn ra).

Trong phần Tứ chí lộ đồ (bản đồ đường đi bốn phía) ở quyển I, thể hiện đường đi từ kinh thành Thăng Long đến Chiêm Thành, đoạn vẽ địa hình, địa mạo phủ Quảng Ngãi, phần chú giải trên bản đồ có nói tới Bãi Cát Vàng tức quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa ngày nay; đó là nội dung của tập bản đồ. Song, một số vấn đề cần được làm rõ là tác giả và niên đại của bản đồ này, như Đỗ Bá Công Đạo là ai ? Bản đồ vẽ vào thời nào ? xã Bích Triều huyện Thanh Giang ở đâu ? Sau đây xin lần lượt trình bày phần nghiên cứu của tôi về các vấn đề trên:

I. Họ của Đỗ Bá Công Đạo

Họ này gia phả chữ Hán ghi 杜 chữ này người vùng Bắc Bộ phát âm là Đỗ, còn người một số vùng ở Nghệ Tĩnh thì gọi là Đậu như Linh mục Đậu Quang Lĩnh, kỹ sư Đậu Bá Mai, Bộ trưởng Đậu Ngọc Xuân, Biên tập viên Đậu Đình Cung...

Căn cứ lạc khoản trong bản đồ, lần tìm đến tỉnh Nghệ An, phát hiện được họ Đỗ này chính là họ Đậu ở xã Thanh Mai huyện Thanh Chương. Sách Thanh Chương huyện chí (ký hiệu VHv.2557) có chép Đỗ Công Luận (tự Công Đạo) người thôn Cẩm Nang xã Bích Triều huyện Thanh Chương. (Xem bản chụp chữ Hán số 1).

Họ Đậu này nay đã thành họ lớn ở Nghệ An. Về nhân khẩu thì riêng chi Cẩm Nang thuộc xã Thanh Mai đã tới 45 hộ, 256 nhân khẩu, trong đó đinh nam có 167 người (theo thống kê năm 1994).

Trong gia phả họ Đậu này, phần về thời Lê Trung hưng có đoạn chép: “Năm Giáp Tuất niên hiệu Đức Long thứ 6 (1634) hậu duệ của Đậu Hoằng Văn dời nhà sang xứ Núi Xú thuộc xã Bích Triều huyện Thanh Chương cùng người họ Trần, họ Phạm, họ Nguyễn khai thác vùng đất đầy cây cỏ, mở ra khu chợ gọi là chợ Phuống, lập thành thôn Bàng Thị (thôn Phuống) sau đổi là Bích Thị. Khi đến đây, vợ của Thủy tổ họ Lê người huyện Hương Sơn (nay thuộc Hà Tĩnh) sinh được 3 con trai là Đỗ Công Thỉnh, Đỗ Công Tường, Đỗ Công Cảo và 2 con gái...

Về nhân vật Đỗ Bá Công Đạo mà sách Thanh Chương huyện chí chép là Đỗ (Đậu) Công Luận, thì trang 5 phần phổ hệ của Gia phổ họ Đậu ở đây ghi: “... ở hàng chú (đường thúc) có Đậu Công Luận thi trúng Giám sinh vào năm đầu niên hiệu Dương Đức đời Lê Gia Tông (1672) làm Tri huyện Thạch Hà được phong tước Đoan Triều nam...”. Đặc biệt gần cuối gia phổ có phần phụ lục chép các kỳ tích của tổ tiên có đoạn chép rõ hơn về Đỗ Bá Công Đạo. Đoạn ấy chép: “Họ ta xưa có Đỗ Bá tự Công Luận hoặc Công Đạo tuổi trẻ đã đậu Hương giải, triều đình gia ơn cho làm Giám sinh, nhưng ông không lấy làm mừng. Ông lại là ấm tử được bổ làm Tri huyện huyện Thạch Hà, ông cũng không muốn làm quan. Ông thường than rằng: nước ta liền cõi Chiêm Thành, trước kia hàng năm bị xâm lấn, có lần giặc đã vào chợ Phuống giết người cướp của thậm khổ. Vào khoảng thời Chính Hòa (1680-1705) ông từ quan, giả dạng người buôn sông Lam, vượt vùng biển Thuận Quảng (nay là dải đất từ Quảng Bình đến Phú Yên), qua các nước Chiêm Thành, Chân Lạp, xem xét núi sông, đường biển xa gần, vẽ bản đồ mang ra Bắc, hiến kế Nam chinh mở rộng biên cương. Chúa Trịnh (Trịnh Căn) rất mừng, mang bản đồ cất đi. Lại trưng dụng ông soạn vẽ cho Tứ chí lộ đồ (xem bản chụp chữ Hán số 2).

Thẩm tra các nguồn tài liệu kể trên, rõ ràng Đỗ Bá Công Đạo là người Nghệ An thuộc dòng họ Đậu này. Ông thông minh sớm đậu Hương giải, lại có tài họa đồ. Bản đồ Tứ chí lộ đồ (sau thêm hai chữ Thiên Nam) là tác phẩm của ông.

II. Quê hương của Đỗ Bá Công Đạo

Theo dòng lạc khoản trong bản đồ của Đỗ Bá Công Đạo dưới tiêu đề Toản tập An Nam lộ, Thiên Nam tứ chí lộ đồ... đều ghi ông người Bích Triều huyện Thanh Giang. Nhưng tìm thời điểm ra đời và kết thúc tên huyện Thanh Giang quả không dễ dàng, mặc dù nó thực sự có quá trình tồn tại.

Trước hết xem Dư địa chí của Phan Huy Chú phần chép về phủ Đức Quang có huyện Thanh Chương, rồi tác giả chú rằng: “Huyện này trước gọi là Thanh Giang có 38 xã 8 thôn...”. Phần Văn tịch chí loại thi văn tác giả giới thiệu: “La Sơn Tiên sinh thi tập do Nguyễn Thiếp soạn. Ông thi đỗ thủ khoa, làm Tri huyện Thanh Giang”. Dịch giả chú: Thanh Giang nay là Thanh Chương Nghệ An. Hạnh Am ký cũng chép: “Nguyễn Thiếp làm Tri huyện Thanh Giang” và Hoàng Xuân Hãn chú: “Thanh Giang: vì kỵ húy Trịnh Giang, nên đổi ra Thanh Xuyên, sau lại đổi thành Thanh Chương”(1).

Sách Đại Nam nhất thống chí tỉnh Nghệ An, phần dựng đặt duyên cách ghi: “Huyện Thanh Chương đầu đời Lê gọi là Thanh Giang”(2).

Giáo sư Hà Văn Tấn chú thích Dư địa chí có đoạn rằng: “Huyện Thanh Chương thời Lê là huyện Thanh Giang... Ngay trong Thiên Nam dư hạ tập cũng chép là Thanh Giang”(3).

Còn về tên xã Bích Triều tên thôn Cẩm Nang thì đã rõ ràng. Đây là một làng văn vật, có thuần phong mỹ tục tốt đẹp. Thời Bảo Đại, xã Bích Triều hợp với xã Thổ Hào, lập thành tổng Bích Hào, thôn được nâng lên ngang cấp xã.

Sống cùng thời và cũng là bạn cùng xã với Đỗ Bá Công Đạo có Tiến sĩ Ngự sử Nguyễn Sĩ Giáo, Tiến sĩ Đông các hiệu thư Nguyễn Đình Cổn, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Tài, Thượng tướng Triều Quận công Trần Hưng Học, Thượng tướng Trung Quận công Trần Hưng Nhượng... là những nhân vật có tiếng tăm.

III. Tập bản đồ của Đỗ Bá Công Đạo

Theo huyện chí, gia phả và truyền văn thì Đỗ Bá Công Đạo là người thích giao du nên cũng không học trong khuôn khổ của trường Giám, mà tìm thầy giỏi học tư, rồi đi thi Hội lọt được hai trường. Tuy chưa đậu Tiến sĩ, người đời vẫn khen ông là người hay chữ, lại có khiếu cầm kỳ thi họa. Ngoài ra, ông còn tinh thông môn địa lý phong thủy truyền dạy cho thân nhân. Tương truyền dòng dõi Đỗ Bá Công Đạo có Giám sinh Đậu Công Bàn rất giỏi địa lý phong thủy, đã được bố Nguyễn Hữu Chỉnh mời chọn cho huyệt đất. Công Bàn đã điểm cho huyệt đất “phát tướng” ở núi Côn Bằng, nên Nguyễn Hữu Chỉnh đã thành tướng giỏi, được Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ tiếp đãi như thượng khách. Chuyện này trong sách Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ cũng có chép.

Quá trình họa đồ của Đỗ Bá Công Đạo đã diễn ra như sau: Thuở ấy chúa Trịnh Tạc và Trịnh Căn đánh đuổi được quân Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến vào Nam, hai chúa nuôi hy vọng có ngày mang đại quân vào Nam lật đổ họ Nguyễn, thu phục đất đai biển đảo phía Nam để khai thác. Do đó hai chúa rất cần bản đồ địa lý miền trong.

Năm Chính Hòa thứ 3 (1682), nhà sư Hương Hải trốn thoát từ miền Nam ra Thăng Long đã vẽ dâng chúa Trịnh một tấm bản đồ, sau này được Lê Quý Đôn đưa vào Kiến văn tiểu lục(4). Nhưng bản đồ đó chỉ mới vẽ vùng Thuận Quảng theo trí nhớ, nên sau đó, Công Đạo đã khéo léo giả dạng người buôn, theo thuyền buôn ra biển vào Nam vẽ bản đồ Tứ chí trong đó có Bãi Cát Vàng.

Gia phả cho biết ông giả dạng người đi buôn vào Nam thời Chính Hòa (1680-1705) nhưng không nói đi năm nào ? Suy ra thì Đỗ Bá Công Đạo vào Nam phải sau khi Hương Hải thiền sư ra Thăng Long, có thể ra đi trong năm Quý Hợi (1683) và sau mấy năm hoạt động, ông mang bản đồ ra dâng và giúp chúa Trịnh Toản tập bản đồ Tứ chí (đường đi bốn phía). Chúa ban thưởng và cất vào kho.

Hiện nay, trong kho sách Hán Nôm còn mấy tập bản đồ ghi tên Đỗ Bá Công Đạo, thường trên 4 chữ Tứ chí lộ đồ có thêm hai chữ An Nam hoặc Toản tập, Thiên Nam... gồm bốn quyển vẽ lộ trình từ Thăng Long đi ra bốn phía. Trong số này tôi xin chọn tập Toản tập An Nam lộ giới thiệu cùng bạn đọc.

Toản tập An Nam lộ (Viện nghiên cứu Hán Nôm ghi ký hiệu A.2628) không phải bản gốc của Đỗ Bá Công Đạo, mà là bản sao, do một nhà Nho thời Lê sao lại tác phẩm của Đỗ Bá Công Đạo, có khả năng gần gũi với nguyên tác. Tập sách sao có nhiều phần: phần đầu ghi tên các đơn vị hành chính 13 thừa tuyên trong Thiên hạ bản đồ đời Lê Thánh Tông đến trang 13b thì hết. Tiếp đó là phần Toản tập An Nam lộ từ trang 14a đến trang 54a. Sau đó người sao ghi thêm mấy truyện linh tinh không liên quan như “huyệt đất Cao Biền”, “sự tích Tả Ao”... rải rác sao có sai sót (phần ghi thêm này không cần kể đến).

Trang đầu (cũng như bìa) ghi tiêu đề Toản tập An Nam lộ. Xấp xỉ dòng tên sách, đề 4 chữ “Chính Hòa thất niên” tức năm thứ bảy niên hiệu Chính Hòa (1686). Vì là hiệu vua phải viết cao lên. Phần dưới ghi Thanh Giang Bích Triều nho sinh trúng thức Đỗ Bá thị tự Công Đạo tập. Nối liền cột lạc khoản này, vẽ luôn phần Phân tam chi đồ (bản đồ ba chi cán long) thay cho lời dẫn (xem bản chụp số 3).

Tiếp đó là phần “Đường từ phủ Phụng Thiên đến Chiêm Thành” không đề quyển nhất, không dành trang riêng mà viết ngay vào bản đồ một dòng: Tự Phụng Thiên chí Chiêm Thành ở góc phải phần trên trang sách. Trên bản đồ này (trang 27b + 28a), ở khu vực phủ Thăng Hoa và phủ Quảng Ngãi, phía ngoài biển có vẽ hình bãi cát kéo dài từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Kỳ với tên gọi Bãi Cát Vàng bằng chữ Nôm. Phần chú giải trên bản đồ này chép rõ: “Bãi cát vàng phỏng dài 400 dặm, rộng 20 dặm, ở giữa biển, từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa biển Quyết Mông (bản đồ ghi Sa Mông, đây viết nhầm Sa thành Quyết). Gió Tây nam thuyền đi phía trong sẽ dạt lại đó, gió Đông bắc thuyền đi cũng dạt lại đó, đều bị chết đói, của cải bỏ lại đó. Mỗi năm đến tháng cuối đông, chúa Nguyễn đưa 18 chiếc thuyền đến đó lấy vàng bạc... Từ cửa Đại Chiêm đến đó một ngày rưỡi, từ cửa Canh Sa đến đó cũng một ngày rưỡi, ở đó cũng sinh sản loài đồi mồi”.

Tóm lại, Tứ chí lộ đồ do Đỗ Bá Công Đạo sưu tập, soạn vẽ theo lệnh của chúa Trịnh những năm niên hiệu Chính Hòa (1680-1705) là văn kiện của nhà nước, một tài liệu chính thức của quốc gia. “Bãi cát vàng” ông thể hiện trên bộ Lộ đồ phản ánh cương giới xứ Đàng Trong do chúa Nguyễn quản lý từ cuối thế kỷ XVI(5) đã mở rộng ra vùng quần đảo ở Biển Đông. Bãi cát vàng là tên gọi nôm na mà nhân dân xứ Đàng Trong đặt ra cho hai loại quần đảo san hô, rồi chuyển sang âm Hán Việt là “Hoàng Sa”, “Hoàng Sa chử”. Tên gọi “Hoàng Sa” “Hoàng Sa chữ” được thông dụng trong các văn kiện thời Lê và Nguyễn, như trong Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam nhất thống toàn đồ, chỉ chung cả hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa ngày nay.

T.B.C

CHÚ THÍCH

(1) Hoàng Xuân Hãn: La Sơn phu tử, Nxb. Minh Tân 1952, tr.59.

(2) Đại Nam nhất thống chí, Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1970, tập II, tr.107.

(3) Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb. KHXH, H. 1976 (in lần 2), tr.622.

(4) Lê Quý Đôn: Kiến văn tiểu lục, Thiền dật, Hương Hải thiền sư.

(5) Cuối thế kỷ XVI thuyền buôn Nhật Bản qua quần đảo Hoàng Sa đã đóng thuế biển cho chúa Nguyễn. Đầu thế kỷ XVII phía Nhật Bản đã cấp Ngự Châu ấn cho thuyền chúa Nguyễn qua biển Đông, được đóng lại ở cảng Trường Kỵ thuộc biển Nhật Bản.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Gia phả họ Đỗ (Họ Đậu, thôn Cẩm Nang, xã Thanh Mai, Thanh Chương, Nghệ An).

2. Thanh Chương huyện chí (Bản chữ Hán) lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu VHv..2557.

3. Hoàng Xuân Hãn. La Sơn phu tử. Nxb. Minh Tân 1952.

4. Đại Nam nhất thống chí (tập II). Nxb. KHXH. H. 1970.

5. Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb.KHXH, H. 1976 (in lần 2).

6. Lê Quý Đôn. Kiến văn tiểu lục. Nxb. Sử học, H. 1962.

7. Hồ sơ về Hoàng Sa - Trường Sa (do Nguyễn Quang Ngọc, Trần Bá Chí tập hợp, lưu trữ lại Phòng Khoa học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN.).

TB

TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT TRONG KHU VỰC VĂN HÓA HÁN

LÃ MINH HẰNG

Ngay từ thời cổ đại, Trung Quốc với tư cách là trung tâm văn hóa đã có giao lưu với nhiều nước ở châu Á và đã gây ảnh hưởng khá lớn đến các nước này. Một trong những ảnh hưởng đó phải kể đến là ảnh hưởng về ngôn ngữ và văn tự.

Nhật Bản và Việt Nam nằm trong khu vực văn hóa Hán nên cùng chịu chung những ảnh hưởng của chữ Hán. Thế nhưng, cách tiếp cận chữ Hán trong tiếng Nhật và tiếng Việt có giống nhau hay không ? Ngày nay ở Nhật Bản chữ Hán vẫn tiếp tục được sử dụng, trong khi đó chữ Hán lại không được dùng nữa ở Việt Nam. Mặc dù vậy, một khối lượng lớn từ gốc Hán vẫn còn tồn tại trong tiếng Việt hiện đại. Việc nghiên cứu so sánh mối tương quan này là điều cần thiết để hai dân tộc có thể hiểu nhau hơn.

1- Chữ Hán và khu vực văn hóa Hán

Chữ Hán là văn tự được phát minh bởi dân tộc Hán - một dân tộc cư trú ở lưu vực sông Hoàng Hà vào khoảng 5000 năm trước Công nguyên. Chữ Hán và văn hóa Hán từ lưu vực sông Hoàng Hà tiến về phía Nam, vượt qua lưu vực sông Dương Tử rồi đi xa hơn nữa về phía Nam và xâm nhập vào Việt Nam. Mặt khác, nó cũng tiến lên phía Bắc gây ảnh hưởng đến các dân tộc Mãn Châu. Từ đây nó tiếp tục tiến xa hơn nữa, đến tận bán đảo Triều Tiên và quần đảo Nhật Bản. Điều này cũng có nghĩa là Nhật Bản, Việt Nam và Triều Tiên cùng tiếp nhận và sử dụng chữ Hán.

Việc tiếp xúc với tiếng Trung Quốc sâu rộng trong một thời gian dài đã đem lại những ảnh hưởng như nhau trong tiếng Việt và tiếng Nhật, có thể nói đó là ảnh hưởng mang tính chất chung của toàn khu vực. Đó là cách ghi âm trong tiếng Việt và tiếng Nhật, cách tạo chữ Quốc tự ở Nhật Bản và phương pháp tạo chữ Nôm ở Việt Nam.

Thế nhưng cũng không thể không có những ảnh hưởng không như nhau trong tiếng Việt và tiếng Nhật. Tiếng Việt cùng loại hình ngôn ngữ đơn âm tiết với tiếng Trung Quốc cho nên âm Hán Việt vẫn bảo lưu được cách đọc chữ Hán đời Đường. Còn tiếng Nhật lại là ngôn ngữ đa âm tiết nên ảnh hưởng của tiếng Trung Quốc không mang tính quyết định như vậy.

2. Ảnh hưởng của chữ Hán trong tiếng Nhật

2.1. Tiếp xúc với chữ Hán

Tiếng Nhật tiếp xúc với chữ Hán ở lục địa Trung Quốc từ khi nào ? Tổ tiên người Nhật sống trên bán đảo Nhật Bản tiếp xúc sau đó học tập, lí giải những chữ Hán của người Trung Quốc từ khi nào ? Về vấn đề này cũng có khá nhiều ý kiến khác nhau. Theo tác giả sách Nihongo no rekishi 2 moji to no meguriai (1966)(1) thì chữ Hán được truyền vào Nhật Bản khoảng thế kỷ IV (tr.168). Còn theo ông Nakađa (1982)(2) thì ngay từ thế kỷ thứ I, tổ tiên người Nhật đã tiếp xúc với chữ Hán và văn hóa Hán ở lục địa và bán đảo rồi. Ông còn cho rằng sự tiếp xúc giữa tiếng Nhật và chữ Hán chẳng qua là sự tiếp xúc mang tính chất ngẫu nhiên mà thôi. Chữ Hán mà những Quy hóa nhân(3) dạy cho người Nhật Bản sau một quá trình học tập và tuyển chọn đã được sử dụng với tư cách là văn tự phù hợp cho việc ghi lại tiếng Nhật.

2.2. Ảnh hưởng của chữ Hán

Sau một quá trình tiếp thu và chọn lọc, chữ Hán được chính thức sử dụng trên quần đảo Nhật Bản. ảnh hưởng của chữ Hán trong tiếng Nhật có thể nói là trên cả ba mặt hình, âm và nghĩa. Ví dụ: chữ Hán 山 vốn được mượn hình của chữ Hán và phát âm “san”. Đó là cách phát âm vốn là của Trung Quốc do người Nhật bắt chước mà đọc theo vậy, được gọi là cách đọc ON. Lại còn một cách phát âm nữa là “yama”, đây là cách đọc nghĩa của chữ Hán mà người Nhật gọi là cách đọc GI, hay còn gọi là KUN. Việc hình thành cách đọc KUN có ý nghĩa lớn trong lịch sử tiếng Nhật.

Sau đây xin đưa ra những kết quả cụ thể của quá trình tiếp xúc đó:

a) Việc hình thành cách đọc GOON và KANON

Hệ thống âm được truyền vào tiếng Nhật sớm nhất là âm đọc thời Hán. Những âm này ngày nay hầu như không còn nữa. Vào khoảng thế kỷ V - VI Ngô âm ở vùng Nam Trung Quốc đã truyền vào Nhật Bản, và được gọi là GOON. Lúc này, chữ Hán đã gây ảnh hưởng sâu trên toàn lãnh thổ Nhật Bản. Rất nhiều tác phẩm như Kojiki, Manyoshu đều được biên tập vào thời kỳ này. Vào thời nhà Đường (tương đương với thời Nara của Nhật Bản) cách phát âm ở vùng Trường An cũng gây ảnh hưởng tới Nhật Bản và được gọi là KANON. Đầu thời kỳ Heian, KANON đã trở thành hệ âm tiêu chuẩn của Nhật Bản. GOON và KANON vẫn liên tục được sử dụng cho đến ngày nay. Sự phân biệt GOON và KANON xin xem bảng sau:

Bảng 1: Goon và Kanon

Chữ Hán Go on Ka non
kyo kei
gyo go
myo mei
kyo kei
e kai

(Theo sách Kana, tác giả Komatsu Shigemi, Nxb. Iwanami shinsho, 1969).

b. Việc hình thành cách đọc Hiragana và Katakana.

Ở Manyogana(4) thì chữ Hán vẫn còn nhiều, nét chữ cũng rất phức tạp. Bởi vậy dạng văn tự biểu âm Hiragana và Katakana được tạo ra bằng cách giản lược các bộ phận của chữ Hán đã ra đời. Katakana được tạo ra bằng cách giản lược chỉ lấy một bộ phận của chữ Hán. Ví dụ: chữ e 工 là do chữ Hán 江, chữ sa là do chữ Hán 散, chữ ta 夕 là do chữ Hán 多, chữ nu là do chữ Hán 奴, chữ hi là do chữ Hán 比 giản lược mà thành.

Đầu thời kỳ Heian, thơ văn chữ Hán được Nhật Bản hóa nhiều. Nam giới khi đăng quan thì phải viết sách vấn, đối sách bằng Hán văn. Thế nhưng nữ giới theo luật lệ đương thời thì không được dùng Hán văn, Hán tự. Vì vậy, trong giới nữ lưu quý tộc đã tạo ra văn tự riêng chuyên dùng để làm thơ, viết nhật ký. Dạng văn tự này được gọi là onnade(5). Cách tạo dạng chữ này không chỉ giản hóa chữ Hán mà còn phân biệt cả thanh trọc. Việc ra đời Hiragana có thể nói là một cố gắng lớn của giới nữ lưu quý tộc thời Heian. Xin giới thiệu một vài chữ Hiragana được tạo ra từ chữ Hán. Chữ ka là do chữ Hán 加, chữ to là do chữ Hán 止, chữ na là do chữ Hán , chữ yo là do chữ Hán 與, chữ ri là do chữ Hán 利 giản lược mà thành. Ngày nay, Hiragana và Katakana cùng song song sử dụng, nhưng có sự phân công rõ ràng: Hiragana dùng để ghi âm Nhật, còn Katakana lại được dùng để phiên âm từ ngoại lai.

c) Kanji Kanamajiri bun

Ngày n ay, tiếng Nhật được viết bằng cách có chen cả Kanji và Kana (Kanji Kana majiri bun). Đối với người Nhật Bản ngày nay đó là việc đương nhiên mà họ cũng chẳng cần để ý tới. Thế nhưng, việc viết có chen lẫn cả chữ Hán là loại văn tự biểu ngữ và Kana là loại văn tự biểu âm có thể nói là một sản phẩm của việc Nhật Bản hóa Hán văn vậy.

“Kanji kanamajiribun” xuất hiện dần dần vào khoảng cuối thời Heian. Bộ phận mang ý nghĩa cụ thể trong tiếng Nhật, tức là bộ phận có thể viết bằng chữ Hán thì sẽ được viết hoàn toàn bằng chữ Hán; còn bộ phận không thể viết được bằng chữ Hán thì sẽ viết bằng chữ Kana. Theo đó, những trợ từ, trợ động từ như o , ni , kara 歝, ga , kimu , kemu ... thì không thể viết được bằng chữ Hán mà phải viết bằng chữ Kana. Ví dụ câu watashi ha nihongo wo benkyo shiteimasu 私 日 本 語 勉 強 là câu được viết theo dạng Kanji kanamajiribun.

d) Sự hình thành Kokuji

Như trên đã nói ảnh hưởng của chữ Hán trong tiếng Nhật là rất sâu rộng. Sự hình thành Katakana, Hiragana là kết quả của sự phát triển trong lịch sử tiếng Nhật. Theo đó, đại bộ phận âm tiết trong tiếng Nhật được ghi lại một cách rất đơn giản. Thế nhưng, để ghi lại những khái niệm, sự vật không có trong văn hóa Trung Quốc thì người Nhật Bản đã làm như thế nào ? Người Nhật đã bắt chước phương pháp cấu tạo chữ Hán để tạo ra chữ mới. Loại văn tự được tạo thành để biểu thị sự vật mang đặc trưng văn hóa Nhật Bản đó được gọi là Quốc tự hay Hòa tự. Số chữ thu thập được trong Kokuji jiten (Từ điển Quốc tự, 1990) là 1553 chữ. Cách cấu tạo của Quốc tự có thể phân làm mấy loại như sau:

d1. Loại chữ do hai chữ Hán hợp thành, gồm:

- Kết hợp ý nghĩa của hai chữ Hán như dạng chữ Hội ý

- Kết hợp âm của hai chữ Hán

d2. Chữ Hán lược nét

- Giảm bớt một số bộ phận của chữ Hán.

- Hệ thống Hiragana và Katakana

d3. Kết hợp chữ lược nét

- Kết hợp hai chữ Hán lược nét

- Kết hợp hai chữ Kana

3- Ảnh hưởng của chữ Hán ở Việt Nam

3.1. Tiếp xúc với chữ Hán

Sự tiếp xúc với chữ Hán trong tiếng Việt không giống như trong tiếng Nhật. Đó là quá trình tiếp xúc liên tục trong một thời gian dài và có thể nói là không thể tránh khỏi. Suốt hàng ngàn năm chịu sự thống trị của giặc phương Bắc, nên chữ Hán đã trở thành phương tiện giao tiếp quan trọng cho cả hai bên; trong khi ở tiếng Nhật thì đó chẳng qua chỉ là tiếp xúc mang tính chất ngẫu nhiên. Hơn nữa, tiếng Việt và tiếng Trung Quốc cùng là ngôn ngữ đơn âm tiết nên khi tiếp thu, tiếng Việt có thể phát huy cao độ năng lực âm tiết để có thể tạo hiệu quả cao nhất. Sau một quá trình thu thập, tuyển chọn trong một thời gian dài, tiếng Việt đã vứt bỏ những bộ phận không cần thiết và chỉ giữ lại những bộ phận phù hợp nhất.

3.2. ảnh hưởng của chữ Hán trong tiếng Việt

a) Hình thành âm Hán Việt

Chữ Hán chính thức được dạy ở Việt Nam vào cuối thời Đông Hán (thế kỷ I). Lúc đó chữ Hán trở thành phương tiện giao tiếp quan trọng đối với cả người Trung Quốc và người Việt Nam. Bởi vậy chữ Hán đã được người Việt Nam nhanh chóng tiếp thu và sử dụng. Đặc biệt đã nảy sinh truyền thống sáng tác bằng văn ngôn; rất nhiều tác phẩm đã được viết ra và lưu truyền. Mặt khác lại nảy sinh cách đọc tiếng Hán rất đặc biệt. Cách đọc đó được hình thành từ cuối thời Đông Hán và đặc biệt là thời Đường, gọi là cách đọc Hán Việt. Âm chữ Hán ở Việt Nam được phân làm ba loại như sau:

- Âm Hán Việt: là âm đọc chữ Hán thời Đường (A)

- Âm cổ Hán Việt: là âm đọc chữ Hán thời trung Đường trở về trước (B)

- Âm Hán Việt Việt hóa là âm đọc chữ Hán thời trung Đường trở về sau (C)

Bảng 2:

Âm chữ Hán trong tiếng Việt

Chữ Hán A B C
trì đìa
trì chầy
phòng buồng
họa vạ
vụ mùa
chủng giống

(Theo sách Kanji minzoku no ketsudan, tác giả Hashimoto Mantaro, Nxb. Taishuukanshoten, 1987).

Hiện tượng Kanji Kanamajiribun trong tiếng Nhật như đã nói ở trên hoàn toàn không có trong tiếng Việt. Điều này có thể nghĩ là do tiếng Việt có cùng đặc trưng ngôn ngữ với tiếng Trung Quốc, cho nên khi tiếp thu các yếu tố có nguồn gốc từ chữ Hán, tiếng Việt không chỉ tiếp thu các đơn vị từ vựng mang nghĩa mà còn tiếp thu các đơn vị từ vựng với tư cách là phương tiện ngữ pháp. Các hư từ trong tiếng Việt hiện nay như nhân 因, tuy 雖, do 由 là những yếu tố Hán Việt Việt hóa. Trong sách Kanji minzoku no ketsudan, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã chỉ ra: “Một phần ba yếu tố ngữ pháp trong tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Trung Quốc” (tr.458).

b) Sự ra đời của chữ Nôm.

Về nguồn gốc của chữ Nôm cũng đã gây nhiều tranh luận khá sôi nổi trong giới nghiên cứu. Để biểu thị những khái niệm, tên các loài cây cỏ không có trong văn hóa Trung Quốc, chữ Nôm đã dần dần được hình thành. Khoảng đầu đời Trần, một khối lượng lớn chữ Nôm đã được tạo ra. Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, đặc biệt là thế kỷ XIX là thời kỳ phát triển rực rỡ của chữ Nôm. Lúc này nhiều sáng tác viết bằng chữ Nôm đã xuất hiện và lưu truyền rộng rãi.

Thiên Nam ngữ lục - tác phẩm tiểu thuyết lịch sử của Việt Nam, Đoạn trường tân thanh - tác phẩm văn học tiêu biểu cũng đều được viết bằng chữ Nôm. Việc ra đời của hàng loạt các sáng tác như Đoạn trường tân thanh đã chứng tỏ thế kỷ XIX chữ Nôm phát triển rất mạnh. Cùng với sự xuất hiện của các sáng tác đó, rất nhiều khái niệm, tên đất tên người, các sản phẩm truyền thống đều được ghi bằng chữ Nôm. Theo sự thống kê của chúng tôi, chữ Nôm được sử dụng ngày nay là khoảng 12.000 chữ. Cách cấu tạo chữ Nôm có thể chia làm mấy loại như sau:

b.1. Loại chữ mượn nguyên

* Chỉ mượn âm

- Mượn âm Hán Việt

- Mượn âm cổ Hán Việt

- Mượn âm Hán Việt Việt hóa

* Mượn âm có biến đổi

- Mượn âm đúng âm chữ Hán

- Mượn âm đọc chệch

* Chỉ mượn ý (chữ đọc ý)

b.2. Loại chữ Nôm tự tạo

- Lược nét chữ Hán

- Chữ hội ý

- Chữ hình thanh

Kết luận.

Trở lên chúng tôi đã điểm qua vài nét về quá trình tiếp xúc với chữ Hán trong tiếng Nhật và trong tiếng Việt, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ hơn những ảnh hưởng của chữ Hán trên phương diện ngôn ngữ và văn tự.

Cách phát âm vùng Trường An thời Đường đã đi vào trong tiếng Nhật và tiếng Việt và nảy sinh cách đọc Kanon và cách đọc Hán Việt. Mặt khác cả người Nhật và người Việt đều biết mượn các bộ thủ của chữ Hán và phương pháp cấu tạo chữ Hán để tạo ra loại chữ riêng cho mình. Đó là những điểm giống nhau khi tiếp thu chữ Hán của hai dân tộc.

Thế nhưng do đặc trưng loại hình ngôn ngữ khác biệt của tiếng Nhật, người Nhật đã áp dụng phép ghi âm bằng cách giản lược chữ Hán để tạo ra Hiragana, Katakana và đặc biệt là dạng Kanji Kanamajiribun. Những phép này tuyệt không có trong tiếng Việt.

L.M.H

CHÚ THÍCH

(1) Nohongo no rekishi 2 moji to no meguriai, Nxb. Heibonsha, 1966.

(2) Nihongo no shekai 4, Nxb. Chuuoukouronsha, 1982.

(3) Quy hóa nhân: là những người nước ngoài được đưa về Nhật sinh sống và trở thành người Nhật.

(4) Manyogana: một loại văn tự dùng để ghi lại các danh từ cố định (như địa danh, nhân danh). Loại văn tự này dùng theo tính chất Kana (với nghĩa là mượn danh từ, gồm có Kunkana và Onkana), mà không hề quan tâm đến ý nghĩa của từ. Vào thế kỷ VI, phép này dùng để ghi lại các danh từ. Thời kỳ Nara, chữ Gana được dùng để ghi âm tiếng Nhật và đặc biệt được dùng nhiều trong tập Manyoshu.

(5) Onnade: với nghĩa là được viết nhờ bàn tay của nữ giới. Theo từ điển Koji en thì onnade với nghĩa gốc là bút tích của nữ giới, sau đó có nghĩa thứ hai là Hi ragana. Như vậy cũng đủ để hiểu lịch sử của từ này.

TB

CHỮ NÔM TIẾNG VIỆT VÀ CHỮ HÁN DÙNG ĐỂ MÔ PHỎNG ÂM TRONG TIẾNG PHẠN

ISHII KIMINARI

1. Lời mở đầu

Các nước xung quanh Trung Quốc một mặt rất tích cực học Hán văn quy phạm, mặt khác lại muốn thử dùng chữ Hán để ghi lại những từ vốn có của mình vốn khác hẳn với hệ thống âm chữ Hán. ở Triều Tiên nảy sinh Lidoku và cũng dùng cả dạng giản lược của nó. ở Nhật Bản Manyogana được sử dụng, phát triển dạng Hiragana và Katakana trên cơ sở yếu tố gốc là chữ Hán, rồi những chữ Quốc tự như Sakaki , Tsuji , Tooge cũng được tạo ra. ở Việt Nam - một nước cùng nằm trong vành đai văn hóa Hán - chữ Nôm cũng được tạo ra với mục đích là thử biểu đạt vốn từ vựng tiếng Việt bằng cách sử dụng chữ Hán. Về sự hình thành chữ Nôm có thuyết cho là vào khoảng cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV do việc Hàn Thuyên đời Trần Nhân Tông (1278 - 1293), Nguyễn Sĩ Cố thời Anh Tông (1293- 1314) dùng nhiều tiếng Việt để làm thơ phú. Thế nhưng bằng cứ trong sách Đại Việt sử ký chỉ ghi là:

“(Hàn ) Thuyên năng quốc ngữ phú thi. Ngã quốc phú thi, đa dụng quốc ngữ thực tự thử thủy” (Thiệu Phong nguyên niên [1282] thu bát nguyệt điều).

“Mệnh thiên chương học sĩ Nguyễn Sĩ Cố giảng ngũ kinh. Sĩ Cố Đông Phương Sóc chi lưu, thiện khôi hài, năng tác quốc ngữ thi phú. Ngã quốc tác thi phú đa dụng quốc ngữ tự thử thủy” (Hưng Long thập tứ niên [1306] thu cửu nguyệt điều).

Tức là sách Đại Việt sử ký ghi bắt đầu từ Hàn Thuyên thơ phú quốc âm được làm ra nhiều, nhưng ở chỗ khác lại ghi bắt đầu từ thời Nguyễn Sĩ Cố. Chúng ta cũng biết có các ghi chép cho rằng thời Nguyễn Sĩ Cố đã có nhiều người dùng Quốc ngữ để làm thơ rồi như:

“Triều dã văn nhân đa tá Hán Hoàng dĩ Chiêu Quân giá hung nô sự, tác quốc ngữ thi từ phong thích chi” (Hưng Long thập tứ niên [1306] hạ lục nguyệt điều)

Nói rằng thơ Quốc âm bắt đầu từ Hàn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố tôi cho rằng là do tác phẩm của hai ông rất nổi tiếng và có sức ảnh hưởng lớn. Cho dù có thừa nhận cùng với việc xác lập thể thơ phú của dân tộc, cách ghi âm tiếng Việt dựa vào chữ Hán đã hoàn chỉnh trên đại thể vào khoảng cuối thế kỷ XIII cho đến đầu thế kỷ XIV, thì việc làm văn thơ dùng chữ Hán ghi âm tiếng Việt có từ cuối thế kỷ XIII trở về trước cũng là điều tự nhiên. Theo trường hợp Nhật Bản thì có thể suy đoán rằng trước khi các bài thơ như vậy được làm ra cách ghi tên người tên đất bằng chữ Hán, phương thức ghi tiếng Việt căn cứ vào chữ Hán ở mức độ nào đấy là đã phát triển rồi. Không có tư liệu về nguồn gốc của bản thân chữ Nôm thì phải chăng nên cho rằng chữ Nôm đã có một quá trình phát triển lâu dài. Lại như thời Hàn Thuyên và Nguyễn Sĩ Cố dùng cách ghi như thế nào? Chữ Hán của Việt Nam đã được tạo ra hay chưa? Thời nhà Trần trở về trước là như thế nào ? Rất đáng tiếc là tư liệu không đủ nên chúng ta không thể biết rõ được. Điều đó cũng có nghĩa là về quá trình hình thành chữ Nôm chỉ toàn là những điểm không rõ ràng.

Cho nên tôi cũng lưu ý rằng ở chữ Nôm có rất nhiều chữ Hán dùng trong các tác phẩm dịch kinh điển Phật giáo để mô phỏng âm Phạn và rồi những chữ có hình thức giống với chữ Hán dùng để mô phỏng âm Phạn như vậy liên tiếp được tạo ra; đồng thời cũng muốn chỉ rõ rằng những người có kiến thức về âm Phạn thông qua việc chú giải âm nghĩa trong các kinh điển Phật giáo có khả năng có liên quan đến việc hình thành và hoàn chỉnh của chữ Nôm. Trong số những người đó có các tăng lữ hay không là điều không thể đoán được. Thế nhưng từ sau đời Hán, Việt Nam chịu sự thống trị của Trung Quốc trong một thời gian dài, văn hóa Trung Quốc thâm nhập khá sâu vậy mà số quan lại được học Nho học không nhiều. Như vậy phải chăng Hán tự, Hán văn chỉ thực sự phổ cập trong giới tăng lữ. Có thể thấy rõ do ảnh hưởng của Phật giáo Tùy Đường nhiều tăng lữ xuất hiện và rất giỏi thơ văn; hơn nữa không thể không nói đến bản thân ông Lý Thái Tổ (1010-1028) - người dựng nên nước Đại Việt - cũng là người xuất thân nơi cửa Phật, năm 1018 ông đã mang kinh Đại Tạng từ Trung Quốc về. Về âm chữ Hán của Việt Nam, ông Mine Yatooru suy đoán rằng “Hệ âm quy phạm đời Đường đã được truyền vào Việt Nam có lẽ với tư cách là cách đọc các tác phẩm kinh điển Phật giáo, hệ âm này được đồng hóa và cố định sao cho phù hợp với hệ thống âm vận của tiếng Việt”. Từ việc cho rằng bộ phận cơ bản của âm Hán Việt là âm thời Đường được truyền vào qua con đường Phật giáo cũng có thể nghĩ rằng có nhiều khả năng việc sử dụng chữ Hán thời kỳ đầu ở Việt Nam có liên quan rất chặt chẽ với Phật giáo.

2. Những nét tương đồng với chữ Hán dùng để mô phỏng âm Phạn

Điều đáng lưu ý khi đọc các tác phẩm viết bằng chữ Nôm là chữ có bộ 口 (khẩu) khá nhiều. Ví dụ nếu đem so sánh bản Chinh phụ ngâm tác phẩm thơ chữ Hán kể về nỗi buồn của người phụ nữ có chồng đi chiến đấu xa mà Đặng Trần Côn (1710? – 1745?) làm ra với bản diễn âm của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705 – 1746) tức là bản dịch chữ Nôm Chinh phụ ngâm khúc theo thể song thất lục bát – thể thơ truyền thống của Việt Nam, thì thấy rõ những khác biệt của nó. Theo sách của Yonosuke Takeuchi khảo về hai tác phẩm, ông đã lấy những chữ Hán có bộ khẩu từ nguyên bản ra, thì ở Chinh phụ ngâm chỉ có 10 chữ tương ứng về(), nội dung, đó là:

喧(3), 鳴(2), 啼(2), 吹(2), 咿 喔 嘆(2), 咨(4), 嗟(5), 唱(4), (eo óc 咿 喔 là tiếng gà gáy nghe vọng lại từ khuê phòng lúc nửa đêm), với số lần xuất hiện là 26 lần.

Trong khi đó ở Chinh phụ ngâm khúc có tới 63 chữ với số lần xuất hiện lên tới 102 lần:

(3), 曢 (6) , (2) , 虝 , 唉 (2), 処 (3) , 唏 (5) , , (4), 唯 , 噲 , , 嘹 , 俌 (2), (2) , , , , 坙 , , , 坘 (3), , 凩, , 垬 (5) , , 哢, , , 喔, (6), , 噴, 口斗, 咏, 凩, 吶 (2), , 冨 (2), 唸, 咮 (2), (2), (2), 喑, 寕 , , 叫, 口衣 , , , 俧, 吿, , , , , (2), 吟 (2), 哦, 喂, 嘌, 凒, .

Lại còn thấy cả những chỗ dùng liên tiếp 4 chữ Hán có bộ khẩu ở bên như: “Khúc nhạc từ réo rắt khong khen”. 曲 樂 詞 冨 . Hơn nữa, trong số 63 chữ này chỉ có các chữ 嘹 叫 喔 令 là sử dụng với ý nghĩa vốn có của chữ Hán thôi. Chữ 吶 nói không chỉ dùng với nghĩa vốn có là “nói lắp” mà còn dùng với nghĩa là “nói”. Chữ 唯 dùng lặp lại là 唯 唯 (dòi dõi). Thế nhưng, bộ 隹 ở bên vì là dạng viết lược nét của 堆 cho nên nó khác với chữ Hán 唯. Tức là bộ khẩu trong hầu hết trường hợp kết hợp với chữ Hán biểu thị phát âm của tiếng Việt; chữ đó biểu thị các động tác có liên quan đến mồm hoặc nếu không thì trở thành phù hiệu dùng để ghi âm mà không có liên quan gì đến ý nghĩa của chữ Hán đó.

Việc bộ khẩu trong chữ Nôm với cách dùng như trên, đặc biệt là được dùng nhiều với mục đích ghi âm đã được Văn Hựu chỉ rõ từ rất sớm. Ông Văn Hựu đưa ra rằng khi dịch các sách kinh Phật, bộ 口 khẩu) bên có tiền lệ là được dùng với tư cách biểu trưng âm tiết như: dùng 囉 để biểu thị phát âm “ra”, dùng để biểu thị phát âm “tha” là những âm không có trong tiếng Trung Quốc. Ông còn giới thiệu báo cáo về Sekitooki thời Cao Ly của ông Zenma Kyosaku như chữ dùng để mô phỏng âm Mek và cho rằng từ sau sách Ryoushi, phương pháp này được dùng nhiều để ghi âm Ural Altail . Ông đưa ra ví dụ từ sau thời Minh Thanh, chữ ghi âm 英 吉 利 (igirisu) 荷 蓮 (oranda) được viết 英 咭 埅, 呵 蓮 ; nó biểu thị các chữ đó khác với ý nghĩa vốn có của 英, 荷, rồi đưa ra kết luận chữ Nôm không thuộc nhóm chữ , 囉 mà lại thuộc vào nhóm sau. Ông Văn Hựu đưa ra các ví dụ để chỉ ra rằng không chỉ trong các chữ Hán dùng để mô phỏng âm Phạn mà cả trong các chữ tục tự thời Minh, các phương ngôn Việt cũng có nhiều chữ Hán dùng bộ khẩu để biểu thị hạn định.

Những điều mà Văn Hựu chỉ ra có thể nói là rất quan trọng. Việc trong chữ Nôm có nhiều bộ khẩu là do người Việt dựa vào việc xác lập phương pháp tạo chữ mới, bằng cách gắn bộ khẩu vào chữ Hán có cách phát âm gần với tiếng Việt hoặc là chuyển dùng toàn bộ chữ Hán có bộ khẩu như một biện pháp ghi tiếng Việt, nhờ đó số lượng chữ Nôm liên tiếp tăng lên, những người đó đã đẩy mạnh chữ Nôm theo xu hướng văn tự biểu âm.

Điều đáng lưu tâm ở đây là những chữ Hán dùng để mô phỏng âm của tiếng Phạn loại như chữ 囉 khác hẳn với tính chất của chữ Nôm thì ông Văn Hựu đã thấy khá nhiều trong chữ Nôm. Cho dù ông đưa ra chữ 埅 khác với chữ 囉 như trên thì thực tế chữ đó lại cũng được dùng nhiều để ghi âm Đa la ni mà trước hết phải kể đến chữ 紇 埅 (hri) (Đại Chính Đại Tạng kinh quyển 8, tr.785 hàng 2) ở trong Bát nhã ba la mật đa lý thú phẩm mà Bất Không dịch từ Đại lạc kim cương bất không chân thực tam ma gia kinh. Hán Hòa đại từ điển của ông Monohashi còn ghi rằng theo sách Tập Vận biên tập đời Tống thì chỉ ghi: “Ly, thanh dã” mà thôi. Đó là vì chỉ do điều tra trong các sách kinh Phật thôi thì không đủ. Nếu nói về chữ có bộ khẩu trong sách Chinh phụ ngâm khúc thì có thể lấy ví dụ chữ là chữ lược nét của 嚧. Thế nhưng chữ 嚧 này lại còn được dùng nhiều để mô phỏng âm Đa la ni trong các sách dịch thời Đường như 3 ví dụ ở Đại thừa lý thú lục ba la mật đa kinh do Đường Bát Nhã Tam Tạng dịch (Đại Chính Đại Tạng kinh quyển 8, tr.873 hàng 27 trên và hàng 24 dưới, tr.874 hàng 13 giữa).

Ngoài ra, cho dù sách Đại Hán Hòa từ điển có những chữ biểu thị ý nghĩa và cách dùng chuẩn xác mà chỉ có thể tìm thấy trong Tập vận hoặc các sách vận thư sau đó thì trên thực tế lại còn có những ví dụ 啊, 噁, , , 嘌 được dùng nhiều trong việc mô phỏng âm Phạn thời Đường hoặc trước thời nhà Đường hay là dùng với tư cách là chữ Nôm.

Thế nhưng trong số những chữ không được thu thập trong bộ Đại Hán Hòa từ điển lại thấy có những chữ như sau được dùng với tư cách là chữ Hán để mô phỏng âm trong tiếng Phạn hay là với tư cách là chữ Nôm.

: 部 薩 利 (隋 三 歲 闍 那 崛 多 共 笈 多 “添 品 妙 法 蓮 華 經” 陀 羅 尼 品 第 二 十 一 大 正 大 藏 經 9 卷, 頁 中 段 7 行 )

: 者 娜 野 (唐 不 空 “仁 王 議 國 般 若 波 羅 密 多 經” 卷 下 , 大 正 大 藏 經 8 卷 , 843 頁 下 段 行

: 日 囉 二 合 娜 那 引 囉 引 野 一 句 吽 引 二 合 钵 多 引 計 引 一 句 (宋 法 賢 說 最 上 根 本 大 樂 不 空 三 昧 大 教 王 經” 卷 第 四 , 大 正 大 藏 經 8 卷 , 807 頁 上 14-15 段 行 ).

3. Chữ Nôm ghi tổ hợp phụ âm và dạng ghép hai chữ Hán để mô phỏng âm trong tiếng Phạn

Trong số những chữ Nôm có bộ khẩu như đã thấy cũng bao gồm cả những chữ được tạo thành do giản lược các chữ Hán rồi sau đó cho thêm bộ khẩu vào. Mặt khác nếu phương thức tạo chữ bằng cách cho bộ khẩu vào được xác lập thì những chữ có cấu tạo đơn giản như vậy có thể được tạo ra rất nhiều, cho nên không thể đoán định được đâu là những chữ Hán dùng để mô phỏng âm trong tiếng Phạn đã được đưa vào chữ Nôm. Thế nhưng, trong trường hợp muốn dựa vào chữ Hán để mô phỏng âm của những từ khác với hệ âm của chữ Hán, điều cần tham khảo trước hết là các ví dụ mô phỏng âm qua các ghi chép về các dân tộc xung quanh trong các bộ chính sử Trung Quốc hay các chữ Hán dùng để mô phỏng âm tiếng Phạn. Ta lại thấy có trường hợp dùng liên tục 4 chữ Hán ghi âm có bộ khẩu như trong Tự luân phẩm Đại Nhật kinh (Đại Chính Đại Tạng kinh quyển 18, tr.30).

Ở Nhật Bản, trong Cổ sự ký và các di văn thời Suiko có dùng nhiều chữ “di”, la rất có khả năng đó là các ví dụ dùng trong Phật giáo như Phú lâu na di đa la ni tử, di lặc bồ tát, a di đà, di lâu sơn. Ông Tsuki shima Yutaka so sánh số tự mẫu Đà la ni trong các sách chép tay thời Na ra như Kim quang minh tối thắng vương kinh quyển 4 và Đại tỳ lư giá na kinh quyển 1 với Manyogana và đưa ra kết quả như sau: Số tự mẫu chung ở quyển trước là 44/105 chiếm khoảng hơn 40%; và ở quyển sau là 25/56 cũng chiếm khoảng 40%; ông đoán rằng những loại sách này là cơ sở chính cho Manyogana. Chỉ một ít sách chép tay hiện còn mà có thể thấy những điểm chung như vậy thì trên thực tế những phần chung còn nhiều hơn nữa. Nghĩa là, sự hình thành Manyogana có liên quan đến những người có hiểu biết về tiếng Phạn. Nếu suy nghĩ thêm về lịch sử Việt Nam mà tôi đã nói trên đây thì có thể nghĩ rằng trường hợp Việt Nam phải chăng cũng giống như vậy.

Giúp cho các suy đoán trên là những chữ Nôm có tổ hợp phụ âm trong các văn bản trước thế kỷ XVII. H.Maspero cho rằng giáo sĩ người Pháp A.De Rhodes căn cứ vào cách phát âm trong từ điển Đông Kinh tiếng Việt ấn hành năm 1651 trên cơ sở tham khảo từ điển của giáo sĩ Bồ Đào Nha và cách phát âm của các dân tộc xung quanh Việt Nam; ông đã giải thích như sau: “Trong tiếng Việt trước đây tồn tại tổ hợp phụ âm đầu bl, kl, tl, những phụ âm này chuyển thành phụ âm đơn trong tiếng Việt hiện nay”. Song những chữ Nôm có tổ hợp phụ âm trong các văn bản thế kỷ XVII về trước có những chữ không đẹp với tư cách là chữ Hán. Ví dụ mà ông Nguyễn Phú Phong đưa ra dưới đây biểu thị sự thay đổi ít nhiều: (a) Chữ Nôm, (b) Cấu tạo chữ, (c) âm đương thời, (d) âm thay đổi, (e) cách ghi của A. De Rhodes và (f) cách ghi tiếng Việt hiện đại.

(a)(b) : (c) (d) (e) (f)
= 巴 ba + 賴 lại : blai trai
疩 = 巴 ba + 陵 lăng : # # blang trăng
= 古 cổ + 弄 lộng : + klong tlong trống
巨 = 巨 cự + 侖 luân : + klon tlon tròn
= 巨 cự + 僚 liêu : + kleo tleo treo
禥 = 巨 cự + 郎 lang : + klang + krang sang
= 巨 cự + 立 lập : + klap + krap sắp
= 巨 cự + 稟 lẫm : + klam + kram

Giống như chữ giêng 喆, đặc trưng của những chữ loại này là được tạo thành chỉ bằng sự kết hợp âm thanh, khác hẳn với những chữ Nôm được tạo thành bởi sự kết hợp các chữ Hán có ý nghĩa. Cũng cần chú ý rằng đó là sự kết hợp giữa phụ âm đầu của một chữ với toàn thể âm của một chữ khác có phụ âm đầu. Tức là trong trường hợp biểu thị âm “đông”, khác với cách phiên thiết ghi bằng “đức hồng thiết”; đây là sự kết hợp giữa phụ âm đầu của chữ trên (thanh mẫu) và bộ phận không phải phụ âm đầu của chữ dưới (vận mẫu); đó là việc làm công phu để ghi tổ hợp phụ âm. Về nguồn gốc của phiên thiết vẫn đang còn nhiều giả thuyết khác nhau: Là do ảnh hưởng của âm Phạn học Ấn Độ hay là vốn có của Trung Quốc ? Cũng có thuyết lại cho đó là vốn có của Trung Quốc, nhưng dưới ảnh hưởng của âm Phạn học mà hoàn chỉnh lên ? Thế nhưng phương thức ghi tổ hợp phụ âm như đã nói ở trên không còn nghi ngờ gì nữa nó bắt nguồn từ ngoài Trung Quốc, từ cách mô phỏng âm trong tiếng Phạn như vajra 金 剛 (kim cương) được ghi 日 囉 二 合. Bản thân tự mẫu trong âm tiết, mọi người đều biết đến cách chọn ghép phụ âm hai chữ liên tiếp giống như sva 婆 thấy trong 42 tự môn của Nhập pháp giới phẩm trong Hoa Nghiêm Kinh. Trong khi tìm ra cách cấu tạo cơ bản cho phát âm tiếng Việt, việc tham khảo những điều trên là điều đương nhiên.

Lại nữa những người sống trong khu vực văn hóa Hán mà không thạo chữ Nôm khi xem những chữ trên thì sẽ nghi ngờ tại sao có nhiều chữ trong đó các bộ phận được xếp theo hình chữ nhật đứng, khác hẳn với những chữ “trống” và “sắp” như vậy. Vì không phải là một vài chữ, phải chăng nên chọn những chữ có số nét ít và khó lẫn với những chữ Hán thông thường; hơn nữa lại có thể cố định chúng trong trường hợp đặt chồng các bộ phận của chữ lên nhau. Điều cần xem xét ở đây là phải chăng những chữ này vốn là những chữ khác nhau được viết theo hàng dọc, nhưng quen tay viết liền nhau mà thành.

Trong các tư liệu viết chữ Hán bên cạnh chữ Phạn để biểu thị phát âm được ghi như sau:

阿 引 哩 野 引 二 合 路 引
以 諦

ā ryā va lo ki te

二 合 嚕 引

śva lo

Các chữ gồm hai chữ như 哩 野 và 滋 lại được gắn chặt nhau (viết liền nhau) (xem hình chụp ở cuối bài). Viết nhầm chăng ? qua ví dụ cách ghi 日 囉 thành 囉 二 合 trong Phật thuyết đế thích bát nhã ba la mật đa tâm kinh (Đại chính Đại Tạng kinh quyển 8, tr.847 hàng 11 giữa) mà Tống Thi Hộ dịch có thể nghĩ đến khả năng dạng chữ gồm hai chữ viết gắn chặt nhau là dạng chữ ghép. Cho dù không có dạng chữ viết gắn chặt nhau như trên, nhưng ở Việt Nam không phải là không có thời kỳ tổ hợp phụ âm đầu “Blai” được ghi bằng dạng viết rời hai chữ “ba” 巴 và “lại” 賴 theo chiều dọc.

ở đây chỉ là suy đoán thôi. Thế nhưng dù có cách ghi như vậy, dù chữ ghép đột nhiên được tạo ra để ghi tổ hợp phụ âm kép; thì vẫn có thể thấy rõ những người dày công tìm ra cách ghi như trên chắc chắn rất am tường về chữ Hán dùng để mô phỏng âm trong tiếng Phạn.

Lã Minh Hằng dịch
(Bài đăng trên Kỷ yếu nghiên cứu Đại học Kadazawa, số 26, tháng 3/1998)

CHÚ THÍCH

(1). Mineya Tooru, Chuuko Kango to Betonamu Kanjion, Kyuuko shoin, 1993, tr.201, tr385-6.

(2). Sđd, tr.388.

(3). Takeuchi Yonosuke, Chinh phụ ngâm khúc, Daigaku shorin, 1984.

(4). Văn Hựu, Luận chữ Nôm chi tổ chức cập kỳ dữ Hán tự chi giao thiệp, Yên Kinh học báo, số 14, 1933, tr.232- 234.

(5). Vẫn biết văn bản dịch Hán các tác phẩm kinh Phật không chỉ giới hạn ở cái gọi là tiếng Phạn hay tiếng Pa ri mà còn gồm cả các sách Phật giáo có lẫn với tiếng Phạn hay tiếng vùng Tây Vực, và các phương ngôn ấn Độ, thế nhưng ở đây để cho tiện xin được ghi bằng từ “mô phỏng âm tiếng Phạn”

(6). Kanda Hydeo, Kojiki no buntai ni kansuru- shi ron, các vấn đề “ Về manh nha của dạng văn Kojiki trong các di văn thời Suiko” “Quốc ngữ và Quốc văn học”, số tháng 8 năm Chiêu Hòa 25.

(7). Tsukishima Hiroshi, Kodai no moji; Nakada Norio, Kooza Kokugoshi 2 oninshi, mojishi, Taishuukan shoten, 1972, tr. 370- 371. Về Manyogana cần nghĩ đến mối quan hệ với Lidoku, xin xem Lidoku to Manyogana no kenkyuu, Izumi shoin, 1982.

(8). Henri Maspero: Etude sur la phonetique de la langue annamite, BEFEO XII, Hanoi, 1912.

(9). A PROPOS DU NÔM, ECRITURE DEMOTIQUE VIETNAMIENNE: Cahier de linguistique asie orientale, No. 4, 1978.

(10). Về các thuyết xin xem Ooshima Shouji, Trung Quốc Ngôn ngữ học sử, Kuuko shoin, 1997, tr. 142- 147.

(11). Về các loại tự mẫu xin lấy ví dụ Mabuchi Kazuo, Nihon ingakushi no kenkyuu 1, chương 1: Phạm ngữ học ở ấn Độ và Trung Quốc( Ringawa shoten, 1984); Yoshitani Toshinobu, Xoay quanh tên gọi Tự mẫu (Nhật Bản Trung Quốc học hội báo, tập 33, số tháng 10 năm 1981.

(12). Pelliot 4577. Hukui Humio, H nnyashinkei no Rekishiteki kenkyuu, Shunjuu sha1987, tr 104.

(13). Kausika - prajnaparamita, Mahayanasutrasamgraha pt.1, Buddhist Sansrit, Texts, No. 17, The Mithila Institute, Darbhanga, 1961, tr. 96.

Hình chụp chữ Phạn

(Pelliot, số 4577)

TB

BIA ĐÁ CHUÔNG ĐỒNG -
DI SẢN VĂN HÓA QUÝ HIẾM Ở THÁI BÌNH

PHẠM MINH ĐỨC

Cách đây hơn 200 năm, nhà bác học Lê Quý Đôn đã viết “Nước ta hai triều nhà Lý nhà Trần (1010-1400) ngang vào khoảng nhà Tống nhà Nguyên Trung Quốc, lúc ấy tinh anh nhân tài, khí cách văn chương không khác gì Trung Quốc, nhưng sách vở ghi chép sơ lược, thiếu sót không tường tận, tôi thu nhặt những văn còn sót lại ở đồ đồng, bia đá (kim, thạch di văn) để chép lại ra đây...” ghi nhận trên chứng tỏ rằng những điều ghi trên chuông đồng, bia đá có ý nghĩa rất lớn, chứng tích của một thời đã qua.

Ngày nay ở Thái Bình, bia đá, chuông đồng cũng là nguồn sử liệu để tìm hiểu về thời xa xưa, sớm có bia đá thời Trần cách ngày nay hơn sáu trăm năm, muộn có bia thời Nguyễn cách ngày nay hơn 100 năm. Ngoài ra còn bia đá thời Mạc, chuông đồng thời Tây Sơn. Những năm gần đây, nhiều bia đã được dịch ra Quốc ngữ, phổ biến rộng rãi trong nhân dân.

- Một số bia đá ở huyện Vũ Thư đã được nhà nghiên cứu sử học, hội viên Hội Lịch sử Việt Nam Lê Xuân Quang (Nam Định) sao chép, dịch in sách.

- Hệ thống bia ở đình Đông Linh xã An Bài, Quỳnh Phụ (hơn chục bia) đã được cụ Nguyễn Duy ứng (Bí thư huyện Phụ Dực xưa) dịch nghĩa.

- Hệ thống bia ở Đông Hưng, đặc biệt là hệ thống bia chùa Lác xã Mê Linh (có tới 13 tấm) đã được cụ Dương Quảng Châu cộng tác viên của Sở Văn hóa dịch.

- Một số bia ở huyện Kiến Xương được hai nhà nghiên cứu Hán - Nôm Nguyễn Tiến Đoàn và Vũ Đình Ngạn dịch. Ngoài những người đã kể trên, hàng chục bia đã được dịch do công sức của các cán bộ nghiên cứu ở Trung ương, của các cụ biết chữ Hán ở các làng quê. Nhờ công lao của các cụ, các bác, các anh chúng ta đã biết tác giả và nội dung các văn bia ở Thái Bình.

- Tác giả các bài văn bia có người là danh nhân đất nước như Triều Liệt đại phu Hàn lâm viện Đại học sĩ Đỗ Nguyên Chương, Lễ bộ Tả thị lang Hàn lâm viện thị độc chưởng Hàn lâm viện sự Lương Đắc Bằng, các Trạng nguyên Hồ Tông Thốc, Lương Thế Vinh, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tiến sĩ Ngô Thì Nhậm, Đỗ Uông...

- Nội dung các bài văn bia, văn chuông khá phong phú, có bia ghi công đức xây dựng, tôn tạo đình, chùa, cầu đá, đúc chuông, tạc tượng. Có bia ghi sự tích một cây cầu, một ngôi chùa, một ngôi đình, sự hình thành phát triển các dòng họ ở trong làng; có bia ghi tên các nhà khoa bảng của một huyện; có bia khắc ghi lại hương ước của làng... Lại có bia ghi tấm gương đạo đức của một Hoàng hậu, Công chúa, một ông Trạng nghè và truyền thống “uống nhớ nhớ nguồn” của dân ta. Với những nội dung phong phú ấy, bia đá, chuông đồng là nguồn di sản quý hiếm có giá trị.

1. Bia đá - dấu ấn một thời của những con người, những vùng đất Thái Bình

- Bia chùa Ông Lâu ở Hiệp Hòa Vũ Thư khắc năm 1377, ghi sửa chùa vào năm 1338 - 1342, “Tại làng Mạn Để châu Hoàng nước Đại Việt có chùa Ông Lâu, biển đề hiệu là Phúc Minh, tương truyền do Linh Nhân hoàng Thái hậu thuở trước xây dựng, phía đông có nhà dân, đường thôn vòng vo vây quanh, phía Tây có ngôi đạo quán, trong nơi rừng cây rậm rạp xanh biếc, phía Nam có đường đi, người lai vãng suốt ngày tấp nập, phía Bắc có dòng sông chảy mãi chẳng dừng. Ngôi chùa dựng trong khu này đã trải qua bao tiết xuân thu...”

- Bia chùa Từ Ân (Đông Vinh, Đông Hưng xây dựng vào năm 1381 - 1382 khắc bia năm 1382): “Tây Quan thuộc hương Cổ Lũ, phía đông là một con sông lớn từ kinh đô về đến cửa Pháp, nước chảy tuôn đầy, quanh co bao bọc, thấm tưới muôn khoảng, dong dong dải dải như đóng như mở. Truyền về phía Đông là khe Phí, chạy về phía Bắc là khe Chủng. Dòng nước cứ chảy tuần hoàn khi đầy khi vơi, khi dâng khi rút... thực là một dòng phát phúc của xứ Tây Quan vậy”.

- Tác giả bia chùa Lác (1575) Mê Linh, Đông Hưng lại viết: “Thôn An Lạc huyện Thần Khê có chùa Đại Bi thực đáng danh lam thứ nhất của quận Tân Hưng (tên phủ Tiên Hưng lúc đó) miền Nam đất nước ta, các danh lam thắng cảnh đâu cũng không bằng chùa nơi đây về vẻ đẹp và sự linh dị...”

2. Những tấm gương, những lời răn dạy về đạo đức, nếp sống

- Bia chùa Từ Ân ghi “Đặt tên chùa Từ Ân là để tỏ lòng không quên về gốc. Công chúa tuy là dòng dõi cao quý của nhà vua (con gái vua Trần Minh Tông 1314 - 1329) nhưng vẫn không quên chốn gốc vậy... Các lễ tết hằng năm, trong lòng dậy lên niềm suy nghĩ mà đau đáu nhớ mong, luôn luôn trăn trở về chốn Tây Quan... nhìn vào tấm lòng thành ấy của công chúa biết đâu người dân đất Tây Quan này, tai nghe tiếng chuông, tiếng trống, mắt nhìn công trình do đức tốt tạo nên hóa chẳng cũng chuyển hóa mà theo về cõi đức tốt hay sao ? Chỉ biết rằng ngôi chùa có cái tên như thế thực là bổ ích cho sự giáo hóa ở đời...”.

- Bia chùa Lác ghi: “Chùa đây mang tên là Đại Bi thì chúng ta đều phải có từ bi làm tim gan, làm tai, làm mắt... ngày trước anh nhường em, kính cha, con hiếu thảo, chồng vợ ân ái thuận hòa, bằng hữu là tin cậy hòa hợp... Giúp đỡ người cùng túng, chu cấp, cưu mang kẻ thiếu thốn... đó là điều chủ chốt của người làm nhân. Bia ghi, chuông khắc để lại cốt để nhắc nhở mọi người luôn nghĩ đến đó mà cảm ứng mà chiêm nghiệm”.

- Bia ghi trên mộ Gia Thục Thái trưởng công chúa, con gái lớn của vua Lê Thái Tông, khắc năm 1483 ở thôn Kiều Thần xã Song An Vũ Thư ghi về bà: “Công chúa căn nguyên bản tính nhu thuận, nhân từ, tuy sinh ra ở trong cung vua mà vẫn giữ theo đạo thường không mảy may lỗi đạo làm vợ, trên dưới đẹp lòng, thấy người khốn cùng không tiếc của cấp cho. Ngày công chúa mất, phụ nữ trong vùng sụt sùi than thở, có người gào khóc, công chúa vừa tròn 22 tuổi, đức khá khen vậy!”

Về nếp sống, bia đình làng Đông Linh (Quỳnh Phụ) ghi “Phàm trong xóm làng ta, bất kì lúc nào, có việc cần tương trợ, tương báo ta phải tổ chức ngay việc cứu giúp tương trợ lẫn nhau. Không được cậy có sức mạnh đè nén người yếu đuối. Không được cậy giàu có khinh rẻ người nghèo, không nên ăn uống bê tha, cờ bạc. Không nên kiện tụng nhau...”

Muộn hơn các bia trên, bia cầu đá xã Vũ Thắng khắc năm 1838 ghi: “Từng nghe... một trong những chính sự tốt đẹp của người xưa là lo sửa sang cầu đường, làm cho việc đi lại bằng phẳng tiện lợi... Cổ nhân nói: đã làm việc thiện thì chớ lo là nhỏ mà không làm. Làm việc thiện là điều hạnh phúc, xong ý nghĩa của nó là thúc đẩy lương tâm của nhiều người cùng làm việc thiện. Đó mới là hạnh phúc to lớn”.

Vì muốn “tỏ muôn vạn lòng thành mong lưu lại ức vạn năm sau” nên người xưa đã dựng bia, đúc chuông và khắc vào đó những chuyện của lịch sử xa xưa. Để lưu lại, nhiều tấm bia được dựng trong đình, trong chùa hoặc có nắp đậy khi chôn dưới đất (bia mộ công chúa con vua Lê Thánh Tông).

Trải qua sáu bẩy trăm năm, Thái Bình vẫn còn một số bia thời Trần, rất nhiều bia thời Lê, Nguyễn. Số còn lại không nhiều nên có thể coi là quý, hiếm. Những năm gần đây, Viện Nghiên cứu Hán - Nôm đã cử nhiều đoàn cán bộ về Thái Bình sưu tầm, in rập thác bản và ghi nhận: “Thái Bình còn rất nhiều bia đá”. Tuy vậy có bia còn mà chữ không còn, do bị phơi mưa nắng. (Bia ở lăng vua Lê xã Phú Sơn, bia Hồng Đức ở chùa Đồ Kỳ xã Đông Đô, đình Vị Thủy xã Thái Hồng...).

Để bảo tồn được những di sản văn hóa quý, hiếm còn lại nên chăng:

1. Trong mỗi làng quê cần kiểm kê, dịch thuật phân loại và làm cho mọi người hiểu rõ nội dung các bài văn bia, văn chuông để có ý thức giữ gìn cho thế hệ sau.

2. Sớm tập hợp cho in thành sách “Văn bia ở Thái Bình” cả chữ Hán và chữ Việt để lưu giữ được lâu dài và cũng tiện cho việc phổ biến rộng.

3. Bảo quản tốt các bia hiện còn tránh phơi mưa, nắng, bởi “trăm năm bia đá thì (cũng) mòn...” (ca dao).

P.M.Đ

TB

CỤM VĂN BIA CHÙA ĐẠI BI
(ĐÔNG HƯNG, THÁI BÌNH)

MAI HỒNG

Tại chùa Đại Bi còn gọi là chùa Cả thôn Hữu xã Mê Linh huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình, hiện có một cụm văn bia bao gồm 8 văn bản thời Mạc - Lê thế kỉ XVI - XVII. Đây là nguồn tư liệu quý về lịch sử ngôi chùa Đại Bi, cũng như sinh hoạt tín ngưỡng của một làng quê đất Thái Bình có bề dày lịch sử.

Bài viết này giới thiệu khái lược nội dung của các văn bia chùa Đại Bi và một số nhận xét bước đầu về giá trị nguồn tư liệu này.

1. Nội dung văn bia

Bia số 1 (B1): Tân tạo thiết kinh đăng thiết luyện hoa thạch bệ Đại bi tự bi (新 造 鐵 擎 鐙 鐵 鍊 花 石 陛 大 悲 寺 碑), do Quốc tử giám Giám sinh khoa Bính Tý Nguyễn Duy Thuần soạn, và người ở Tây Am, Vĩnh Lại tên là Nguyễn Bá san khắc chữ, dựng ngày 01 tháng 8 niên hiệu Hồng Ninh thứ 2 (1592) thời Mạc Hậu Hợp. Kích thước 0,90 x 0,60m, 24 hàng chữ, trung bình mỗi hàng 30 chữ.

Nội dung: Chép về sự kiện các sãi vãi ở chùa Đại Bi, xã An Lạc, huyện Thần Khê tạo tác cây đèn sắt, bệ đá hoa cửa chùa để thay thế cây đèn trước, bệ cửa chùa trước đây làm bằng gỗ đã bị hư hỏng. Chùa Đại Bi là ngôi chùa cổ, một trong những danh lam vào bậc nhất nước Nam. Cảnh chùa vốn là một danh lam bậc nhất nhưng chưa kịp đúc chuông thì nay tình cờ bắt được quả chuông nổi ngoài sông, lại thêm cây đèn sắt, thềm cửa đá hoa đẹp đẽ. Đúng là những sự kiện trọng đại, là công đức lớn lao, góp thêm vào những chỗ còn thiếu khuyết của bàn tay tạo hóa. Đèn trăm năm tỏa sáng, tượng Phật vàng son rực rỡ, bệ hoa xán lạn sớm chiều bên lâu đài chất ngất ngào ngạt mùi hương. ở cái thời kỹ nghệ rèn đúc, sắt thép chưa cao, mà chùa đã có cây đèn sắt, sắt là kim. Vậy thì, kim mang ý nghĩa Ngũ hành 5 yếu tố cấu thành vũ trụ đi đầu ở chốn này. Chùa vốn mang tên Đại Bi là mở rộng lòng lành, làm việc nhân nghĩa. Từ Bi còn mang ý nghĩa Từ ái của đạo nho. Từ bi, từ ái là việc làm ở thời vua nhân, bề tôi nhân nghĩa, cha từ con hiếu, anh nhường em kính, phu xướng phụ tùy (chồng hô vợ ủng). Đó cũng là những ứng xử rất mực thước của mọi người trong thường nhật.

Người làm phúc, tích phúc là âm công thì ắt có dương báo, có phúc lành tới chẳng riêng gì đời mình hưởng mà muôn đời con cháu cũng được hưởng phúc lành. Vậy mới đem khắc bài minh vào đá để lưu truyền dài lâu.

Danh sách những người công đức mà đứng đầu ông Hội chủ là Viên quan Khâm sai Ngự dinh Phó tướng kiêm Đông đạo quân dinh binh sự, Bắc quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc, Chưởng phụ sự thời Mạc, Dũng Nghĩa công...

Bia số 2 (B2): Tân tạo các bi minh ký (新 造 閣 碑 銘 記) (Bài minh ký bia về việc tân tạo gác chuông chùa), do Quốc tử giám Giám sinh Minh Luân đường Nguyễn Duy Thuần soạn, Nguyễn Bá người ở Tây Am huyện Vĩnh Lại san khắc chữ vào bia ngày 3 tháng 10 năm Hưng Trị 2 (1959) thời vua Mạc Hậu Hợp. Bia 2 mặt, khổ 1,75 x 0,75m, 24 hàng chữ, mỗi hàng 30 chữ.

Nội dung: Chép về việc xây dựng gác chuông Đại Bi, thôn An Lạc, thuộc huyện Thần Khê xưa (nay thuộc xã Mê Linh, huyện Đông Hưng) có ngôi chùa Đại Bi cổ kính, ngày xưa nhân vớt được quả chuông nổi mà chùa có tên là chùa Chuông. Chùa ở về phía đông có gác cao, nên chùa được liệt vào hạng danh lam bậc nhất ở nước Nam do các tăng ni đứng ra quyên góp tiền bạc trắng tiền bạc đỏ xây đắp nên.

Nói về qui mô chùa Đại Bi cũng không lớn như Linh Sơn(1), Qui Tàng(2). Thế nhưng nơi đây là chốn đất đai phúc khánh dài lâu. Bởi lẽ nơi tôn linh phá đi rồi lại xây, bế tắc ắt lại hanh thông, càng vùi càng dập đi rồi sau lại dấy lên, cũng do non sông ta vẫn vĩnh tồn như xưa, nhưng dẫu vũ trụ có đổi thay dâu bể gì thì vẫn như câu chuyện cổ Trung Quốc “Rừng bồ đào mọc lại” “Bồ lâm tái châu”(3). Trước hết phải kể tới công của tăng ni dốc lòng xây đắp từ không thành sắc, từ vô thành hữu. Chùa có thêm gác chuông do con người tạo lập mà đẹp thêm, qui mô càng thêm rộng, tiện nghi lễ bái ngày càng sầm uất hơn xưa. Bởi nhờ có gác mà chuông cũng được tô điểm. Tiếng chuông vang vọng xa hơn, sớm chiều nghe tiếng ngân nga khiến lòng người thêm phấn chấn mà cũng đưa lại lạc phúc cho nhân quần thế thái. ở thời có từ bi, bác ái, có nghĩa, có nhân thì từ chốn triều ca tới nơi đồng nội xóm thôn ai ai cũng đều hưởng cái phúc yên hàn. Vua buông tay rủ áo mà trị nước, triều thần an thân mà phụng sự; cha mẹ yên vui vì có con hiếu cháu hiền, anh em hòa thuận trên kính dưới nhường, vợ chồng hòa thuận, tớ thày vui vẻ... tất thảy đều từ nhân nghĩa mà có.

Danh sách những người công đức gồm có các ông Nguyễn Bệ, tự là Phúc Hải, Hội chủ Nguyễn Bích, đạo hiệu là Đức Trung và đứng đầu danh sách các tăng ni là Nguyễn Đình Quí pháp hiệu là Tuệ Phúc. Trên trán bia mặt sau có hai chữ lớn: Tín thí, danh sách những người công đức thập phương có người ở mãi huyện Kinh Môn... người tên ở cuối của bia mặt sau với dòng chữ trang trọng: Khoái Châu phủ, Phù Hoa huyện, Diên Linh xã Tỳ Khưu - Huệ Nhân.

Bia số ba (B3): San kinh bi minh ký (刊 經 碑 銘 記), do Nguyễn Duy Thuần soạn và dựng bia vào ngày tiết Trùng dương năm Quang Hưng thứ 17 (1594) đời vua Lê Thế Tông. Bia 2 mặt, kích thước 1,10 x 0,81m, 23 hàng chữ, trung bình mỗi hàng 29 chữ.

Nội dung: Chép về sự kiện in kinh Phật tại chùa Đại Bi, xã An Lạc, tổng An Lạc, huyện Thần Khê, nêu rõ lý do chùa Đại Bi được in kinh Phật vốn là vì ở đây có Phật (tức vua Trần Nhân Tông), có Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Thuận nuôi ngài khi còn là Hoàng tử Thuyên, bà đã dựng nên ngôi chùa Đại Bi. Khi khánh thành chùa, Hoàng Thái hậu đã mời sư Pháp Loa (vị tổ thứ hai đạo Thiền Tông Trúc Lâm) về lập trai đàn. Chùa nhờ có Phật mà nổi tiếng, sư sãi nhờ có Phật mà lừng danh. Nhân đấy sư sãi ở đây họp nhau lại để in kinh bổn và in được nhiều kinh hơn các chùa khác để cống hiến cho thiên hạ.

Những vị sư năng nổ trong công việc in ấn kinh Phật như: Nguyễn Bích hiệu Đức Tung, Nguyễn Thị Bãi, Nguyễn Bổng tự hiệu là Phúc Tiến, Nguyễn Lạn tự là Phúc Đức và các vị sư sãi khác. Việc in kinh Phật của các sư sãi ở đây cũng là một việc thiện, là để quảng bá cái đức nhân nghĩa cho quảng đại chúng sinh, khiến họ tự ngộ mà hướng tới chỗ chí thiện trong cuộc sống.

Bia số bốn (B4): Đại Bi tự bi ký (大 悲 寺 碑 記), do Tiến sĩ cập đệ khoa Bính Thìn niên hiệu Quang Bảo (1556) thời Mạc Tuyên Tông, Binh bộ Hữu thị lang kiêm ứng Vương phủ Triều liệt đại phu Đỗ Uông soạn. Trưởng tràng môn đệ của Bảng nhãn Đỗ Uông chép chữ khắc bia năm Sùng Khang thứ 9 (1574) thời Mạc Hậu Hợp. Bia 2 mặt, kích thước 1,30 x 0,79m, 26 hàng chữ mỗi hàng trung bình 130 chữ.

Nội dung: Chép sự tích chùa Đại Bi. Chùa Đại Bi, xã An Lạc huyện Thần Khê quả đúng là danh lam bậc nhất của phủ Tân Hưng (sau đổi là phủ Tiên Hưng). Ngày trước chùa vớt được một quả chuông đẩu nổi ở sông, trên chuông có khắc dòng chữ Hoàng Thái hậu thời vua Trần Anh Tông (1290 - 1292) đúc. Tiếng chuông vang vọng rất xa, nay còn ghi ngày soạn bài minh chuông.

Mùa xuân năm Giáp Tuất, niên hiệu Sùng Khang thứ 7 (1572) xây gác chuông lại đào được tấm bia đá thời Trần, mặt bia không thấy chữ (có lẽ chữ bị rêu phong làm mòn). Đầu xuân năm ấy đúc tượng làm nhang án và mở hội lớn. Danh lam thắng cảnh cả nước ta so ra đâu cũng không bằng chùa nơi đây cả về vẻ đẹp và cả về sự linh dị nữa. Bởi bắt được chuông nổi ở sông, đào được cả bia đá ở trong lòng đất, đó là do thần phật tạo ra. Và đó cũng là ý trời khởi phát tâm thiện cho mọi người mà tạo nên cái đẹp cho quốc gia.

Vậy nên làm điều nhân không phải chỉ là nhu cầu vật chất ở bên ngoài mà còn là sự đòi hỏi ở trong tâm hồn của chúng ta cũng phải là cái đẹp và sáng trong vậy.

Bia số 5 (B5): Đại Bi tự chú đồng Phật bi (大 悲 寺 鑄 銅 佛 像 碑) (Ghi việc đúc tượng đồng của chùa Đại Bi), do Quốc tử giám Giám sinh Trung xá sinh Trúng thức khoa ất Mão Tô Vũ Lan soạn văn bia vào ngày tốt tháng 9 năm Vĩnh Tộ thứ nhất (1621) đời vua Lê Thần Tông. Bia 2 mặt, kích thước 1,10 x 0,70m, 30 hàng chữ, mỗi hàng trung bình 34 chữ.

Nội dung: Ghi việc đúc tượng Phật bằng đồng của chùa Đại Bi xã An Lạc, huyện Thần Khê, phủ Tiên Hưng (nay thuộc xã Mê Linh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình).

Chùa Đại Bi là một thắng tích chế ngự cả một vùng sơn thủy Bắc Hà, từng là danh lam bậc nhất của nước Nam ta, bởi có chuông đẩu vớt tự dưới sông lên, lại có bia chìm trong lòng đất khai quật lên được. Cảnh thắng ấy là do cơ trời tạo tác, là bởi đất ứng mà nên lâu đài nguy nga, gác điện lộng lẫy. An Lạc một vùng địa linh sinh nhân kiệt: tướng võ thần văn khoa danh lừng lẫy người trước kẻ sau kế tiếp đời đời. Đều do thần Phật phù trì mà người gia tâm làm việc phúc lành: đúc cây đèn sắt, thềm lát đá hoa, lập thêm hương án làm chốn dâng hương. Phật thánh, in khắc kinh văn để lưu truyền ở đời. Đầu đời Sùng Khang đã xây gác chuông ở Liên Bình để treo quả chuông vàng, kế đó dựng chùa Lan Châu, lại trồng cây to làm bóng mát cho dân sinh hóng gió lành; đào giếng, bắc cầu mở mang xây dựng chùa miếu không chỉ một nơi mà đã lên trên hàng chục. So với thời Hoàng Thái hậu (của Trần Thánh Tông) khởi tạo thì qui mô tăng gấp bội. Đặc biệt là có điện rồng càng thêm lộng lẫy nghiêm trang. Nơi tôn thờ ngày càng có nhiều kiểu dáng xinh đẹp và đông đặc san sát hơn xưa.

Tới đầu năm Tân Dậu các sãi vãi lại phát tâm xuất gia tư thu mua đồng tốt, để đến ngày 12 tháng 3 đúc xong thêm 10 pho tượng đồng. Việc làm ấy không phải chỉ có ý nghĩa làm đẹp nhất thời mà còn để cho đời sau chiêm ngưỡng. Khiến họ nhìn vào đây nghĩ vào đây, sẽ thấy công đức của tiền nhân là vô bờ bến vậy. Đúng là người tích thiện sẽ được hưởng nhiều phúc lành. Không chỉ cho bản thân mà còn lưu truyền cho con cháu muôn đời được hưởng an lạc vinh hoa.

Hội chủ và chủ trì việc công đức Lưu Giang bá Trùm phủ Trần Công Triều, tự là Phúc Quảng cùng các sãi vãi và tên tuổi các vị gia tâm công đức trong việc đúc tượng Phật trọng đại này.

Bia số sáu (B6): Tạo Đại Bi tự hành lang lưỡng vu bi ký (造 大 悲 寺 行 廊 兩 廡 碑 記) (Tạo dựng hai hành lang (tả vu hữu vu) chùa Đại Bi). Bia do Cống sinh (Cử nhân) khoa Mậu Tý Thuần phu Nguyễn Duy Thuần soạn vào năm Quang Hưng thứ 17 (1594) đời vua Lê Thế Tông (Duy Đàm). Bia 2 mặt, kích thước 1,10 x 0,70m, 22 hàng chữ, trung bình mỗi hàng 34 chữ.

Nội dung: Chép về sự kiện các chức sắc quan viên lớn nhỏ ở xã An Lạc, huyện Thần Khê đứng dựng quyên góp công đức của nhân dân trong xã và thập phương để xây hai dãy hành lang (tả vu hữu vu) chùa và xây hai gian cánh gà cổng chùa chùa Đại Bi.

Trong danh sách những người phát tâm công đức ấy thấy những 15 vị làm quan to, tước vị lớn, tước hầu tước bá, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Cai quản vệ Triều Đông, Thụy Khê bá Nguyễn Ngọc Trân (hưu quan tại bản xã) Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Vạn hiệu Vệ quân Tri Xuyên hầu Nguyễn Quang Tiến (dưỡng cư bản xã); Quốc Tử giám Trung xá sinh Nguyễn Duy Thuần; Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Chấn Chưởng vệ Giảng Khê hầu Nguyễn Đình Thu; Đặc tiến Kim sự Ty quan Cai vệ Triều Đông, Phù An bá Nguyễn Khắc Minh; Thư ký bản huyện Trung Nghĩa bá Trần Tông; Quan Cai quản huyện người bản xứ Triết Giang bá Trần Công Triều; Quan Cai quản địa phương Công Phú bá Nguyễn Văn Chương; Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Quản Cai vệ Triều Đông; Hùng Sơn bá Trần Văn Minh; Hữu Sơn bá Nguyễn Như Quản; Nhi Kim bá Nguyễn Thế Hiệu; Liệt Sơn bá Phạm Toản; Chánh tổng Nguyễn Quang Vũ cơ phó tướng Thắng Đô công Mai Vĩnh, Quang Hòe Thọ Xuân bá Nguyễn Duy An; Tập ấm Bảng Đông hầu Xã chính Nguyễn Khoan Nhân...

Bia số bảy (B7): Tân tạo Phật tượng Đại Bi (新 造 佛 像 大 悲) (chùa Đại Bi đúc tượng mới). Bia không ghi người soạn, còn người san khắc chữ là ông Nguyễn Bá, người xã Tây Am, huyện Vĩnh Lại, vào ngày mùng Một tháng 8 năm Hưng Trị nguyên niên (1588) đời vua Mạc Hậu Hợp. Bia 2 mặt kích thước 1 x 0,60m, 16 hàng chữ, mỗi hàng trung bình 24 chữ.

Nội dung: Ghi việc làm nhân tu đức của các sãi vãi chùa Đại Bi, xã An Lạc, huyện Thần Khê, phủ Tân Hưng vào ngày 27 tháng 12 năm Đoan Thái thứ 2 (1587) đời vua Mạc Hậu Hợp đứng làm Hưng công Hội chủ đúc tác 16 pho tượng mới và tô lại 6 pho tượng cũ. Đến ngày 15 tháng 2 năm sau Đinh Hợi, công việc hoàn tất, các pho tượng cũ mới đều được sơn son thếp vàng óng ánh huy hoàng, mở hội mừng công. Đến ngày 15 tháng 8 năm ấy mua đá làm bia khắc chữ ghi công.

Nguyễn Đình Quý tự Huệ Phúc (tu đạo), Nguyễn Chiêu tự là Phúc Điền, Trần Công Thứ tự Huyền Phúc, Nguyễn Duy An tự Phúc Ngộ, Trần Công Triều tự Phúc Quảng, Hùng Sơn bá Nguyễn Văn Minh tự Phúc Xuyên, Nguyễn Thừa Đản tự Phúc Độ, Quan viên tử Nguyễn Kim chi tự Phúc Toàn, Bùi Đàm tự Phúc Đa, Lão vãi Trần Thị Ngọc Minh tự Phúc Tiên; Tín thí Nguyễn Bệ tự Phúc Hải, Cung Sơn bá Nguyễn Thiệu hiệu Trường Thọ, Sĩ tổng Trần Tiềm tự Phúc Thượng sĩ, Nguyễn Đình Hưu tự Huyền Phúc, Nguyễn Duy Thuận, Nguyễn Bích, Quan viên tử Trần Tú, Nguyễn Quang Tiến, Trùm phủ Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Văn Trưng, Trần Bảo, Chánh tổng Nguyễn Đình Siêu, Xã chính Nguyễn Quang Hanh, Xã trưởng Nguyễn Vinh Bang...

Bia số 8 (B8): Hậu Phật bi ký (後 佛 碑 記). Bia không ghi tên người soạn, dựng ngày 25 tháng 6 năm Cảnh Trị thứ 3 (1665) đời Lê Huyền Tông. Bia 2 mặt, kích thước 1 x 0,50m, 24 hàng chữ, trong mỗi hàng có 30 chữ.

Nội dung: Mặt tiền là bức phù điêu tượng hậu Phật, người đã gia tâm công đức góp phần xây lại ngôi chùa Đại Bi, đó là bà Nguyễn Thị Huy. Mặt sau ghi việc các quan viên sắc mục xã An Lạc đứng làm Hội chủ quyên góp công đức của nhân dân bản xã và thập phương xây lại chùa Chuông, bấy giờ người bản xã là bà Nguyễn Thị Huy, hiệu là Từ Lãng bàn bạc cùng con cháu phát tâm cúng tiến 45 quan. Quan viên đem 45 quan tiền mua được 4 thửa ruộng với diện tích 2 mẫu để làm ruộng hương hỏa cho nội tự. Nay toàn thể quan viên chức sắc trong xã họp mặt để chứng kiến công việc này. Các vị ấy đều có ký tên vào văn bản rồi khắc vào bia đá để lưu truyền vĩnh viễn đời đời vậy.

Ngoài 8 tấm bia ở chùa Đại Bi còn có 2 quả chuông: một đúc lại vào thời Minh Mệnh (1820) vì chuông đẩu đã bị Nguyễn Hữu Chỉnh thu đi để đúc đạn dưới thời Trịnh và Tây Sơn và không rõ lý do gì đến năm Tự Đức 7 (1854) đúc lại chuông. Hai quả chuông này hiện còn treo tại chùa, cây đèn đá (cây hương đá dựng năm Chính Hòa thứ 25 (1704) thời vua Lê Hy Tông mà (B1) niên hiệu Hồng Ninh 2 (1592) gọi là “Cây đèn sắt” và bia tưởng niệm quan Nghè Tân, tức Nguyễn Thành húy là Quý Nha, thụy là Bồ Giản đỗ Thái học sinh khoa Canh Thìn triều Hồ (đồng khoa với Nguyễn Trãi), làm quan tới chức Thái trung Đại phu Đông các Đại học sĩ, Nhập thị kinh diên Quốc tử giám Tế tử, Thái tử Tân Khách. Văn bia do Tú tài Hội trưởng Hội Tư văn, Phó Giáo trường huyện Thần Khê, người thừa tự hương hỏa họ Nguyễn của cụ Nghè ở An Lạc là Nguyễn Kim Quế soạn vào năm Chính Hòa thứ 15 (1604). Bia dựng tại nhà tưởng niệm quan Nghè Nguyễn Thành cùng trong sân chùa Đại Bi thôn Hữu xã Mê Linh. Lăng mộ miếu đền quan Nghè hiện ở thôn An Vĩnh bản xã. Văn bia còn tên tuổi chức tước một số người có quan hệ thân thuộc với quan Nghè như:

- Trung thư sảnh Khởi cư trú xã Trần triều á hi Đại phu Nguyễn Tốn Am (thân phụ quan Nghè).

- Quốc tử giám Giám viên Trí sĩ Hội trưởng Hội Tư văn phủ Tiên Hưng quán tại Tiên Lữ, Hưng Yên Đào Nhân Khê Tiên sinh (Thầy học của quan Nghè).

- Thần đồng học sinh của phủ Tiên Hưng, Giáo thụ phủ Tiên Hưng Nguyễn Đạt Đạo (em họ của quan Nghè).

- Quốc tử giám Giám sinh Nguyễn Phục Đạo (em Đạt Đạo).

2. Một vài nhận xét về những bài văn bia này:

- Chùa Đại Bi được khởi dựng từ thời Trần do bà phi Trần Anh Tông là Nguyễn Thị Thuận xây dựng.

- Nếu tính thời Trần khi Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Thuận khởi dựng chùa Đại Bi đến năm 2000 cuối thế kỷ XX là 700 năm. Nếu tính từ bài văn bia đầu tiên ở thời Lê - Mạc là (B4) vào năm Trùng Khang 9 (1574) đến việc đúc lại quả chuông vào thời Nguyễn Tự Đức 7 (1854) thì ta có 280 năm. Nhưng không tính việc đúc lại chuông lần cuối mà chỉ tính văn bia đầu thời Lê - Mạc đến cuối thời Lê - Mạc (1574 - 1694) thì ta có thời gian 124 năm.

Trong quãng thời gian ấy đã có bao nhiêu biến cố bể dâu triệt phá lại dựng xây, rồi lại triệt phá lại tạo dựng... trên một ngôi chùa ở làng quê. Đó cũng nói lên tính kiên cố bền chắc và bất diệt một di sản, văn hóa của một cộng đồng làng xã và tính đấu tranh ngoan cường bảo vệ nó của các thế hệ các thành viên của cộng đồng trong tiến trình lịch sử.

Các bài văn bia hầu hết luôn nhấn đi nhấn lại cái đức tính từ bi, từ thiện nhân ái, nhân nghĩa đúng với tên gọi của chùa Đại Bi.

- Nhà Phật lấy từ bi làm nền tảng cho mọi hành vi tốt đẹp của con người. Kinh Phật nói rõ nghĩa lý giữa “nghĩa” và “lễ” làm cho nghĩa tình bầu bạn anh em như muôn chim cùng hót cùng bay cùng hòa trong tháng ngày thanh bình vằng vặc trăng sao. Đó là sự hòa hợp ở chốn hương đảng, là qui củ mẫu mực của chốn rừng Bồ, của dòng Sa - di cõi Phật ấy. Làm việc thiện là âm công tất được dương báo - đó là tâm khí trong thân thuộc - lòng người hòa thuận thì ý trời lòng đất cũng hòa thuận theo.

- Trong vòng 18 năm: tính từ bia (B4) năm Sùng Khanh 9 (1574), B7 năm Hưng Trị 1 (1588), B2 năm Hưng Trị 2 (1589) đến B1 năm Hồng Ninh 2 (1592) đã xuất hiện 4 tấm bia thời Mạc ở trong phạm vi của một ngôi chùa làng quê đã nói lên một điều rằng vương triều nhà Mạc cũng là một triều đại sùng thịnh văn hóa (nói riêng về văn hóa).

Văn bia triều Mạc của TS. Đinh Khắc Thuân một công trình nghiên cứu công phu khá thành công và đã có tiếng vang, trong đó anh thống kê tổng số bia hiện lưu giữ của Viện Nghiên cứu Hán Nôm là 155 tấm bia mà trước đây Viện Viễn đông Bác cổ đã sưu tầm, thì nay chúng tôi phát hiện thêm 4 tấm nữa, âu cũng là một đóng góp nhỏ vào di sản văn bia quý giá của thời Mạc. Chắc rằng 155 tấm bia cộng với 4 tấm đây cũng chưa phải con số cuối cùng của kho bia triều Mạc.

M.H

CHÚ THÍCH

(1) Linh sơn: Phật gia gọi Thướu Sơn là Linh Sơn. Linh Sơn là nơi Thích Ca Mâu Ni ở. Có một lần Thích Ca trong khi thuyết pháp bằng thị phạm cầm bông hoa vê vê trên tay (niết hoa) ngài thấy Ca Diếp mỉm cười mà đức Thế Tôn liền giao phó và phong cho là Chính pháp nhãn tạng.

(2) Qui tàng (Qui tàng lục): Tức A - Hàm kinh của nhà Phật có chép: Có con rùa bị con thú tên là Dã can () ôm rít cả đầu đuôi rùa không cho nó thở. Sau Dã can giận dữ buông cho rùa đi. Phật kể chuyện cho các Tì khưu nghe. Từ đấy có Qui Tàng lục.

(3) Đạo Phật ở Trung Quốc thời sơ kỳ cũng bị vùi dập bài xích nhưng sau khôi phục lại ở rừng bồ đào một ngôi chùa nổi tiếng thời Đường./.

TB

BIA THỜI MẠC Ở CHÙA PHÚC GIAO (THÁI THỤY THÁI BÌNH) BỊ ĐỤC NIÊN ĐẠI

ĐINH KHẮC THUÂN

Tại chùa Phúc Giao xã Thụy Dân huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình hiện có hai bia đá cổ kính bị đục niên đại. Bia thứ nhất dựng ngay cửa vào nhà thờ tổ, có tên là Phúc Giao tự bi, bia thứ hai thì dựng sát tường phía trong nhà thờ tổ. Bia thứ hai thì chỉ có một mặt khắc văn bia, còn một mặt kia tạc tượng Hậu để thờ. Do khuôn khổ bài viết, chúng tôi chỉ tập trung giới thiệu văn bản và lí giải niên đại bị đục ở bia thứ nhất.

Những trường hợp niên hiệu trên bia bị đục, thường là niên hiệu vua thời Tây Sơn (1788-1802), để tránh sự trả thù của nhà Nguyễn (1802-1945). Nhưng trường hợp đục niên hiệu trên bia này không phải là niên hiệu thời Tây Sơn mà là niên hiệu thời Mạc (1527-1592).

Bia Phúc Giao tự bi có kích thước 0,55x0,65m, kí hiệu thác bản tại Viện Hán Nôm: 45039 - 45040. Trán bia cong trang trí rồng chầu mặt nguyệt, hai diềm bên trang trí hoa dây lá lật, chân bia trang trí hoa văn cánh sen. Bia khắc hai mặt, mặt sau cũng được trang trí tương tự như mặt trước, song trán bia được trang trí mặt trời và hai áng mây xoắn. Bia đặt trên bệ bia hình rùa đã nằm chìm xuống đất. Văn bản bằng chữ Hán, khắc kín hai mặt bia. Mặt trước là bài kí, ghi việc quan viên hương lão và toàn dân xã An Tiêm dựng tòa Tiền đường ba gian và tô 10 pho tượng Phật là: Thích ca, Kim thân, Nam tào, Bắc đẩu, Thánh phụ, Thánh mẫu, Diệu âm, Diệu Nhan, Kim đồng, Ngọc nữ. Sau đó lại tô hai pho Hộ pháp. Mặt sau bia kê tên người công đức. Tác giả bài văn bia là viên Thanh hình Hiến sát Phó sứ của Hiến sát sứ đạo Ninh Sóc, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Chính trị Thượng khanh Lê Đoan Phủ, người xã An Tiêm soạn. Niên đại bia được ghi là "[?] [?] vạn vạn niên, tuế tại Nhu triệu Chấp đồ"(1), tức năm Bính Thìn. Hai chữ ở đầu câu này chính là niên hiệu đã bị đục.

Đây là văn bia chùa có phong cách khá điển hình ở thời Mạc thế kỉ XVI. Các pho tượng trên đều có nguồn gốc ở điện thờ các quán đạo được nhập vào Phật điện chùa. Hiện tượng này thường diễn ra ở thời Mạc - đỉnh điểm của "Tam giáo đồng nguyên", như chùa Sổ (Thanh Oai, Hà Tây) là quán đạo Hội Linh, chùa Mui (Thường Tín, Hà Tây) là quán Hưng Thánh… Đặc biệt Phật điện chùa Phúc Giao này hoàn toàn như điện thờ chùa Sổ (Hà Tây). Có điều là tượng thờ chùa Phúc Giao không còn mà chỉ được văn bia ghi lại; còn tượng chùa Sổ thì còn nguyên, nhưng lại không được ghi chép tên gọi các pho tượng này. Hai nguồn tư liệu này bổ sung cho nhau để góp phần lí giải hệ thống điện thờ ở chùa Sổ nói riêng, các ngôi chùa quán thời Mạc nói chung, đồng thời góp phần khôi phục và tái tạo Phật điện, cũng như di tích chùa Phúc Giao (Thái Bình) nói riêng và một số ngôi chùa quán thời Mạc có xu hướng hòa đồng Phật - Lão. Về chức tước tác giả bài văn bia này, chức Chính trị Thượng khanh, Hiến sát phó sứ là chức quan thời Lê - Mạc và tên đạo Thừa tuyên Ninh Sóc cũng thuộc thời Lê Mạc mà trên văn bia thời Mạc xuất hiện khá phổ biến(2), từ thế kỉ XVII trở đi đổi thành Thái Nguyên. Văn bia ghi sửa chùa vào năm Hoàng triều [?] [?] ngũ niên, tiếp đó năm Nhâm Tí tô tượng Phật. Có nghĩa là năm Nhâm Tí tương đương với năm thứ 6 của một niên hiệu vua nào đó. Xét năm Nhâm Tý là năm thứ 6 của một niên hiệu vua, thì chỉ có thể là năm 1552 thuộc niên hiệu Cảnh Lịch (1547-1554) đời Mạc Phúc Nguyên(3). Và như vậy, năm Bính Thìn dựng bia là năm 1556 thuộc niên hiệu Quang Bảo (1554-1561) thứ 3, cũng thuộc đời vua Mạc Phúc Nguyên.

Trường hợp bị đục niên hiệu trên bia thời Mạc này có lẽ là những trường hợp đầu tiên được biết. Đương nhiên hai bia ở chùa Phúc Giao này không thể bị đục niên đại cùng những bia thời Tây Sơn ở vào thời Nguyễn được. Nhân dịp khảo sát toàn bộ di tích và tư liệu văn bia huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình, được biết vùng đất này vào thế kỉ XVII bị nhà Lê điều động lên Cao Bằng để đánh tàn dư nhà Mạc. Tại chùa Khánh Đức xã Thái Nguyên hiện còn một pho tượng Hậu bằng gỗ và văn bia Hậu này dựng vào năm Cảnh Trị 2 (1664) cho biết vị Hậu Phật này là bà Nguyễn Thị Nguyên hiệu Từ Hảo đã chu cấp 50 quan tiền cho dân phu làng đi đánh nhà Mạc ở Cao Bằng. Chính câu ca quen thuộc "Em về giã gạo ba giăng, Để anh kín nước Cao Bằng về ngâm. Cao Bằng xa lắm anh ơi, Đi về kín nước giếng khơi cho gần. Nước này tắm đức Thánh quân, Nước vo hạt gạo trắng ngần dẻo thơm" được nảy sinh từ sự kiện và thời điểm này ở đất Thái Thụy mà nay vẫn lưu truyền. Thực tế, vào thời Mạc, vùng đất Thái Thụy nằm sát đất Dương Kinh, kinh đô thứ hai của nhà Mạc, mang nhiều dấu ấn sâu đậm của vương triều này(4). Song sang thế kỉ XVII, thì nơi đây lại là nơi cung cấp sức người, sức của cho cuộc chinh phạt nhà Mạc ở Cao Bằng do nhà Lê phát động. Vì lẽ đó, người dân ở đây phải tạm đục bỏ niên hiệu nhà Mạc, nhằm che mắt quan quân nhà Lê để tránh nguy cơ bị hủy hoại di tích có dấu ấn nhà Mạc.

Văn bia chùa Phúc Giao là một tư liệu quý giá, lại là một trong những văn bia khá sớm ở đất An Tiêm nói riêng, vùng đất huyện Thái Thụy nói chung có lịch sử lâu đời, phong phú. Chúng tôi xin giới thiệu dưới đây toàn bộ nội dung bản dịch của bài văn bia Phúc Giao tự bi này.

Phiên âm: Phúc Giao tự bi

Doanh tạo Phúc Giao tự Tiền đường Phật tượng bi kí tính minh

Phù kiến tự giả sở dĩ sự chư Phật tiếp vạn linh dã. Sự Phật giả sở dĩ cầu công đức kì huyền hựu dã. Cấu nhân hữu thiện tâm nhi năng doanh tạo hưng kiến nhi năng cung kính phụng sự, tắc thiên tất hậu kì báo nhi tứ chi dĩ phúc dã. Nhiên năng dữ nhân vi thiện tất đãi đại thủ đoạn. Tư An Tiêm xã thiện sĩ trùm phủ Lê Đăng hiệu Đạo An, Phạm Quang Diệu hiệu Đức Huyền, Huyện sĩ Nguyễn Năng hiệu Huyền Căn, Lê Phong hiệu Diên Thọ, Lê Thị Đô đẳng hưng khởi thiện niệm tu hành thiện quả.

Nãi ư Hoàng triều [?] [?] ngũ niên quyên gia tư thị lương tài, doanh tạo Phúc Giao tự tiền đường, tam gian, nhị hạ, bất tuần nguyệt nhi tiền đường dĩ nguy sùng hĩ. Ư Nhâm Tí niên nguyệt doanh tạo Thích ca Kim thân nhị tướng, tố hội Nam tào, Bắc đẩu, Thánh phụ, Thánh mẫu, Diệu âm, Diệu nhan, Kim đồng, Ngọc nữ cộng thập tướng. Giáp Dần niên nguyệt doanh tạo Hộ pháp nhị tướng. Bất tuần nhật nhi chư Phật dĩ xán lạn hĩ. Tuế tại Thượng chương Am mậu, hựu tu tạo án tiền nhất kiện thiết nhất tòa, diệc tùy thời cấu tác. Cưu công vân tất, công đức viên thành, khánh tán toại khai, nhân dân xưng tụng thử công thử đức, khải khả lượng tai, khâm lặc chư thạch dĩ thị hậu nhân, sử chi vĩnh giám.

Nhưng trưng văn ư dư dĩ kí kì thực. Dư diệc thiện kì thịnh đức, đại công bất khả tư nghị. Nãi viện cổ ngữ dĩ chứng trưng chi. Thư viết: tác thiện giáng bách tường. Dịch viết: tích thiện hữu dư khánh. Nghiệm chi trung viết: vi thiện chính thụ phúc, tắc tri vi thiện giả thiên tất hậu kì báo đắc vị, đắc lộc, đắc phú, đắc thọ vu kì thân, vu kì tử tôn hĩ. Hà tất phí từ, nhưng thuyên vu thạch dĩ truyền vĩnh cửu, minh viết:

Phát bồ đề niệm,
An Tiêm thiện sĩ
Quyên tư thị mộc,
Tiền đường tu tạo
Ấn tiền kim ánh,
Công đức viên mãn,
Ca tu nhân tụng
Thân cung tôn tử
Thử công thử đức
Kí thuật vu thủy
Thuyên chi vu thạch
Hưng thiện tạo công
hạc đức danh công
Dụng lực cưu công
Phật tượng quang dung
Hải hội chu hồng,
Khánh tán tu sùng
Trạch cập hậu mông
An lộc thường phùng
Thị sắc thị không
Minh liệt ư chung
Truyền dĩ vô cùng.

Hội chủ hưng công trùm phủ Lê Đăng hiệu Đạo An, Phạm Quang Diệu hiệu Huyền Đức, Huyện sĩ Nguyễn Năng hiệu Phúc Căn…

Tín thí kí:

Trịnh Nghi hiệu Phúc Lệnh, Trịnh Thị Xuân, Lê Thị Niên, Lê Thị Kiêm, Lê Thị Ngọc Chi,…

Quan viên hương trưởng Vũ Tiến, Nguyễn Quang Huy…

[?] [?] vạn vạn niên tuế tại Nhu triệu Chấp đồ nguyệt Đinh Hợi cốc nhật. Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Ninh Sóc đạo Thanh hình hiến sát sứ ty Hiến sát phó sứ, Chính trị Thượng khanh, Bình khai An Tiêm, Lê Đoan phủ soạn.

Dịch nghĩa: Văn bia chùa Phúc Giao

Bia kí và bài minh tạo dựng Tiền đường, Phật tượng chùa Phúc Giao.

Dựng chùa là để thờ Phật, tiếp dẫn vạn linh; thờ Phật là để cầu công, cầu đức, cầu huyền diệu phù trợ. Nếu ai có lòng thiện dựng chùa, cung kính thờ phụng thì trời ắt báo đáp mà ban cho phúc lành vậy. Nhưng muốn có cơ hội để cho người làm việc thiện tất phải chờ bậc cao nhân.

Nay xã An Tiêm có Thiện sĩ Trùm phủ Lê Đăng hiệu Đạo An, Phạm Quang Diệu hiệu Đức Huyền, Huyện sĩ Nguyễn Năng hiệu Huyền Căn, Lê Phong hiệu Diên Thọ, Lê Thị Đô cùng dấy lòng thiện, tu thiện quả. Do đó vào năm Hoàng triều thứ 5 [Cảnh Lịch thứ 5: 1551] quyên góp tiền của riêng tư mua sắm vật liệu tốt tạo tác Tiền đường chùa Phúc Giao 3 gian 2 chái. Không đầy một tháng mà nhà Tiền đường đã nguy nga vậy. Năm Nhâm Tí [1552] lại tạo 2 pho tượng Thích ca, Kim thân, tu bổ các tượng Nam tào, Bắc đẩu, Thánh phụ, Thánh mẫu, Diệu âm, Diệu nhan, Kim đồng, Ngọc nữ, tất cả là 10 pho. Vào năm Giáp Dần (1554) tạc 2 pho Hộ pháp. Chẳng bao lâu mà tượng chư Phật đã trở lên rạng rỡ.

Vào năm Thượng chương, Am mậu [ất Mão: 1555], lại tu tạo án tiền 1 bộ, cột hương một cây, cũng nhân dịp mà tu bổ, sắm sửa thêm. Công việc hoàn tất, công đức viên mãn. Ngày khánh thành, nhân dân đều ca tụng công đức ấy thực lớn lao khó lường được, phải cho khắc lên đá lưu truyền, để hậu thế mãi mãi sau này được rõ.

Bèn đến nhờ tôi viết văn bia để ghi lại sự thực. Tôi cũng thấy công đức ấy lớn lao không lời nào nói lên hết được. Do vậy, xin viện dẫn câu nói cổ nhân để minh chứng điều đó. Kinh Thư nói: "Người làm phúc hẳn được ban trăm điều lành". Kinh Dịch nói: "Người tích thiện sẽ có nhiều phúc lộc". Nghiệm thấy ở trong các lời đó đều bảo làm việc thiện tất được phúc đức, mới hay người và làm việc thiện, tất được trời báo đáp hậu hĩ, được lộc, được giàu có, được thọ đối với bản thân và con cháu vậy. Hà tất phải nói thêm gì nhiều, nên cho khắc vào đá để truyền mãi mãi. Bài minh rằng:

Bồ đề phát nguyện,
An Tiêm thiện sĩ
Quyên tiền mua gỗ
Tiền đường tu tạo
Án tiền vàng chói
Công đức tròn vẹn
Ngợi ca công đức
Mình và con cháu
Công đây đức ấy
Ghi nhớ từ cội
Tạc lên bia đá
Lòng thành dựng xây.
Đức lớn cao nhân
Dốc lòng khởi công
Phật tượng nguy nga
Hải hội tươi màu
Mừng ngày khánh thành
Ơn để muôn đời
Quan lộc nối dài
Như sắc như không
Khắc để muôn đời
Truyền mãi vô cùng.

Hội chủ hưng công Trùm phủ Lê Đăng hiệu Đạo An. Phạm Quang Diệu hiệu Huyền Đức. Huyện sĩ Nguyễn Năng hiệu Phúc Căn. Lê Phong hiệu Diên Thọ, Lê Thị Đô. Sãi Nguyễn Đình hiệu Khải Nguyên, Nguyễn Liên hiệu Phúc Diễn, Vũ Thị Ngọc Cánh, Lê Thị Lũng, Lê Thị Dũng, Phạm Thị Tài, Lê Tuyên Kì, Nguyễn Thị Năng, Nguyễn Thị Thiêm, Nguyễn Thị Hoảng, Phạm Bính, Nguyễn Cao, Lê Điển, Phạm Tài, Bùi Đẳng, Nguyễn Thọ, Lê Thị Ngọc Minh.

Tín thí:

Trịnh Nghi hiệu Phúc Lệnh, Trịnh Thị Xuân, Lê Thị Niên, Lê Thị Kiêm, Lê Thị Ngọc Chi, Nguyễn Thị Cả.

Nguyễn Thị Đường, Nguyễn Thế Trụ, Lê Văn Thụ, Lê Văn Bảng, Nguyễn Thị Niệm, Lê Thị Nhiên, Lê Thị Sĩ, Lê Thị Trứ, Nguyễn Duẩn, Nguyễn Phế, Nguyễn Cảnh Sơn, Nguyễn Đại Công, Lê Thị Ngọc Đài, Lê Kỳ, Nguyễn Cảnh Phúc, Phạm Khắc Luân.

Nguyễn Thị Phương Quế, Lê Đa hiệu Đức Diệu, Lê Doãn Thành hiệu Huyền Trinh, Lê Đăng hiệu Tiến Văn, Đinh Đốc Bùi hiệu Đức Tân, Trịnh Luân, Nguyễn Hùng Tài.

Vũ Tuấn Phạn, Nguyễn Lương, Nguyễn Thị Đại, Nguyễn Thị Chỉnh, Bùi Thị Sung, Đinh Thị Nẫm, Trịnh Thị Hán, Nguyễn Thọ Tập.

Quan viên hương trưởng Vũ Tiến, Nguyễn Quang Huy, Trịnh Giai, Lê Đình Tông, Lê Văn Luân, Lê Vĩnh, Nguyễn Cảnh Chỉ, Lê Đức Tân.

Nguyễn Kim Phương, Nguyễn Cảnh Đức, Lê Trung Bảng, Lê Trương, Lê Trấn, Nguyễn Trường, Bùi Tiến Bảng, Phạm Hưng Hiền, Lê Đô, Vũ Khánh, Vũ Duy Nhất, Lê Đỉnh, Lê Huyền, Nguyễn Cố, Lê Hạng, Hoàng Chung, Nguyễn Hưng Nhân.

Nguyễn Cẩn, Trịnh Huy, Lê Bảng, Nguyễn Trịnh, Nguyễn Văn Trị, Nguyễn Thắng, Nguyễn Pháp, Nguyễn Đá. Nguyễn Xứng…

[? ?] vạn vạn niên, tuế tại Nhu triệu Chấp đồ [Bính Thìn: 1556], nguyệt Đinh Hợi (?) Mặc chấp đồ cốc nhật.

Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Ninh Sóc đạo Thanh hình hiến sát sứ ty Hiến sát phó sứ, Chính trị thượng khanh, Bình Khai, An Tiêm họ Lê hiệu Đoan phủ soạn.

Đ.K.T

CHÚ THÍCH

(1) Đây là cách ghi duy danh can chi. Xem Đinh Khắc Thuân, "Một số vấn đề niên đại bia Việt Nam", Tạp chí Hán Nôm, số 2/1987, tr. 26-34.

(2) Văn bia thời Mạc, KHXH, H. 1996.

(3) Trong Niên biểu Việt Nam (Vụ Bảo tồn Bảo tàng tái bản, Hà Nội, 1970, tr.34), niên hiệu Cảnh Lịch nhà Mạc được ghi là từ 1548-1553. Thực tế, niên hiệu Vĩnh Định chỉ tồn tại trong vài tháng của năm 1547, do đó năm đầu của niên hiệu Cảnh Lịch có thể đã bắt đầu ngay từ năm 1547. Xem thêm, Lê Thành Lân và Trần Ngọc Dũng "Dùng văn bia để xác định lại một vài niên hiệu của nhà Mạc", Tạp chí Khảo cổ học, 3/1996, tr.79-86.

(4) Tại khu vực Thái Thụy và Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình vừa được phát hiện khoảng 10 văn bia thời Mạc, trong đó có tới 3 văn bia do Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn.

福 膠 寺 碑

營 造 福 膠 寺 前 堂, 佛 像 碑 記 并 銘.

夫 建 寺 者 所 以 事 諸 佛, 接 萬 靈 也. 事 佛 者 所 以 求 功 德 祈 玄 祐 也. 苟 人 有 善 心 而 能 營 造 興 建, 而 能 恭 敬 奉 事 則 天 必 厚 其 報 而 錫 之 以 福 也. 然 能 與 人 為 善, 必 待 大 手 段. 玆 安 暹 社 善 士 仚 府 黎 登 號 道 安, 范 光 耀 號 德 玄, 懸 士 阮 能 號 玄 根, 黎 豐 號 廷 壽, 黎 氏 都 等 興 起 善 念, 修 行 善 果. 乃 於 皇 朝 [?] [?] 五 年, 捐 家 貲 市 良 材, 營 造 福 膠 寺 前 堂, 三 間 二 廈. 不 旬 月 而 前 堂 已 巍 崇 矣. 於 壬 子 年 月, 營 造 釋 迦 金 身 二 相, 塑 會 南 曹 北 斗 聖 父 聖 母 妙 音 妙 顏 金 童 玉 女, 共 十 相. 甲 寅 月 年, 營 造 護 法 二 相. 不 旬 日 而 諸 佛 已 燦 爛 矣. 歲 在 上 章 庵 茂, 又 修 造 案 前 一 件 鐵 一 座, 亦 隨 時 構 作 鳩 工 云 畢. 功 德 圓 成, 慶 讚 遂 開 人 民 稱 訟 此 功, 此 德 豈 可 量 哉. 欽 勒 諸 石 以 示 後 人, 使 之 永 監. 仍 徵 文 於 余 以 記 其 實. 余 亦 其 盛 德 大 功 不 可 思 議. 乃 授 援 古 語 以 證 徵 之. 書 曰: 作 善 降 百 祥. 易 曰: 積 善 有 餘 慶. 驗 之 中 曰: 為 善 正 受 福 則 知 為 善 者, 天 必 厚 其 報, 得 位 得 祿 得 富 得 壽 于 其 身, 于 其 子 孫 矣. 何 必 費 辭, 乃 鐫 于 石 以 傳 永 久 銘 曰:

發 菩 提 念
安 暹 善 士
捐 貲 市 木
前 堂 修 造
案 前 金 映
功 德 圓 滿
歌 修 人 頌
身 躬 孫 子
此 功 此 德
記 述 于 始
鐫 之 于 石
興 善 造 功
碩 德 名 公
用 力 鳩 乃
佛 像 光 融
海 繢 朱 紅
慶 讚 修 崇
澤 及 後 蒙
官 祿 常 逢
是 色 是 空
銘 列 於 終
傳 以 無 窮

一 會 主 興 功 仚 府 黎 登 號 道 安, 范 光 耀 號 玄 德, 縣 士 阮 能 號 福 根, ; 黎 豐 號 廷 壽, 黎 氏 都, 士 阮 廷 號 凱 元... 信 葹 記.

一 官 員 鄉 長 武 進, 阮 光 輝...

[?] [?] 萬 萬 年 歲 在 柔 兆 執 涂, 月 丁 亥 墨 執 涂 榖 旦.

特 進 金 紫 榮 祿 大 夫, 寧 朔 道 清 刑 憲 察 使 司 憲 察 副 使, 正 治 上 卿 平 開 安 暹, 黎 端 甫 撰.

TB

HAI TẤM BIA TRẠNG TRÌNH SOẠN MỚI PHÁT HIỆN Ở THÁI BÌNH

NGUYỄN HỮU TƯỞNG

Tháng 11 năm 2000, đoàn cán bộ Viện nghiên cứu Hán Nôm tiến hành sưu tầm tư liệu Hán Nôm tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Quỳnh Phụ là huyện địa đầu của Thái Bình giáp huyện Ninh Giang (Hải Dương) qua con sông Luộc và giáp huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng) qua sông Hóa. Quỳnh Phụ gồm 2 huyện cũ Quỳnh Côi và Phụ Dực gộp lại là một vùng đất cổ, còn lưu lại nhiều chứng tích lịch sử qua nhiều triều đại. Tại đây chúng tôi đã sưu tầm được nhiều tài liệu Hán Nôm quý giá có thể cung cấp nhiều thông tin khoa học để nghiên cứu vùng đất này nói riêng và lịch sử đất nước nói chung. Rất thú vị là chúng tôi được chứng kiến hai tấm bia có niên đại nhà Mạc do chính Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn còn được bảo vệ khá nguyên vẹn tại đây. Trên một vùng đất láng giềng với quê hương Cụ Trạng, lại là hai bài văn do chính Cụ Trạng sáng tác, được lưu giữ trên chất liệu tương đối bền vững, thiết nghĩ hai tấm bia này là một bảo vật cần được trân trọng và gìn giữ. Bởi vậy chúng tôi thấy cần giới thiệu rộng rãi cho giới nghiên cứu và giới quản lý văn hóa về hai tấm bia này.

- Tấm bia thứ nhất: được phát hiện tại chùa Thanh Quang, thôn An Phú, xã Quỳnh Hải (thuộc Quỳnh Côi cũ). Qua các tư liệu Hán Nôm, đây là ngôi chùa đã có từ triều Trần. Ngoài hiên chùa dựng 4 tấm bia có niên đại từ đời Mạc tới đời Nguyễn. Sư cụ giữ chùa cho biết trong chùa còn một tảng đá nữa và đưa chúng tôi vào xem. Tại tiền đình chùa, khe giữa ban thờ đức ông và tường chùa quả có một tấm bia. Vì khe quá hẹp, bia lại chôn sâu gần một nửa trong nền gạch, nên khi bật lửa soi chúng tôi chỉ thấy bia có dấu hiệu là bia thời Mạc nên đề nghị dân làng đào lên. Khi tấm bia được đưa lên, thì đó đúng là tấm bia thời Mạc. Tấm bia gồm hai mặt, khổ 70 x 79cm. Mặt 1 tấm bia nhan đề Diên Thọ kiều b i (Bia cầu Diên Thọ). Phần tên tác giả đề: Tứ Ất Mùi khoa Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh Trình Quốc công trí sĩ, Vĩnh Lại Trung Am Nguyễn Bỉnh Khiêm Hanh Phủ soạn. Phần niên đại đề: Sùng Khang vạn vạn niên chi tam, bát nguyệt, thập ngũ nhật: Ngày 15 tháng 8 năm Sùng Khang 3 (1568). Bia chữ rõ ràng gồm hai phần. Phần đầu là bài văn nói về việc dựng cầu đá và một bài minh 8 câu, mỗi câu 4 chữ ca ngợi việc dựng cầu. Mặt sau tấm bia có nhan đề: Trùng tu tôn đạo Thanh Quang tự bi ký (Bia trùng tu, tôn tạo chùa Thanh Quang). Phần niên đại đề: Dương Hòa tứ niên lục nguyệt thập bát cốc nhật: Ngày mồng 4 tháng 6 năm Dương Hòa 4 (1640). Bia được khắc bằng nét chữ khác hẳn mặt kia. Với việc hai mặt bia có hai niên đại cách nhau 78 năm, có nội dung khác nhau, nét chữ khác nhau, chúng tôi cho rằng tấm bia này vốn chỉ có một mặt được tạo vào năm Sùng Khang 3 (1568) để khắc bài văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Sau đó vài chục năm, nhân việc tu sửa chùa người ta mới tận dụng mặt sau tấm bia để khắc bài văn trùng tu chùa. Cũng vì lẽ đó mà tấm bia vốn dựng ở đầu cầu đá, ngoài trời, được đưa vào chùa cất giữ. Vì thế tấm bia mới được bảo quản rất tốt cho tới ngày nay.

- Tấm bia thứ hai: Khi tới xã An Ninh (thuộc Phụ Dực cũ) chúng tôi được các đồng chí ủy ban xã cho biết trong xã có một tấm bia Cụ Trạng và đưa chúng tôi tới xem. Tấm bia này nằm tại chùa Khang Ninh, xã An Ninh. Bia 2 mặt khổ 55 x 63cm. Mặt một bia nhan đề: Tu tạo thạch Phật bi ký (bia ghi về việc tạc tượng Phật bằng đá). Phần tác giả đề: Tứ ất Mùi khoa Tiến sĩ cập đệ Trình Quốc công trí sĩ, Vĩnh Lại Trung Am Độn Tẩu Nguyễn Bỉnh Khiêm Hanh Phủ soạn. Phần niên đại đề: Diên Thành nhị niên thập nhất nguyệt, thập bát cốc nhật - Ngày lành 18 tháng 11 năm Diên Thành 2 (1579). Bia gồm hai mặt. Mặt 1 khắc bài văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm về việc tạc tượng và một bài minh 6 câu, câu 4 chữ. Tiếp theo là phần ghi họ tên người công đức. Mặt 2 khắc tiếp danh sách người công đức ở mặt 1.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một danh nhân văn hóa của cả nước. Việc nghiên cứu về ông luôn là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực. Trong tình hình tư liệu về ông còn khá lộn xộn, thì việc phát hiện hai tư liệu bảo đảm xác thực về mặt khoa học ở hai tấm bia trên có thể đóng góp phần nào thông tin cho các nhà nghiên cứu. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu bản dịch hai tấm bia trên.

BÀI VĂN BIA THỨ NHẤT

Bia Cầu Diên Thọ thuộc (xã) An Đổ, (huyện) Quỳnh Côi, (phủ) Thái Bình là một di tích cổ trải bao năm tháng đã bị hư hại. Các bậc kỳ lão tiền bối trong làng là Hoàng Văn Độ, Nguyễn Trí, v.v... đã quyên góp tiền của xây dựng 15 gian cầu. Dựng trụ đá giữa lòng sông, lát ván gỗ trên mặt nước làm thành đường lớn. Hành khách qua lại thật là tiện lợi. Việc này đã được khắc vào bia lưu truyền lại. Nay các thiện sĩ là Bùi Công Tiến, Đoàn Cảng, Nguyễn Trí, v.v... đem tấm lòng, tiếp người xưa mà hoàn thành việc làm cầu lại sửa mới thêm. Ngày 23 tháng giêng năm Sùng Khang 3 (1568) thì khởi công. Ngày 15 tháng 8 thì hoàn thành. Làng có xin tôi bài văn để khắc lại rõ sự việc. Tôi cũng có lòng vui với việc thiện nên không vì già lão, kém cỏi mà từ chối. Tôi bảo họ rằng: cầu này vốn trước đã có. Nay làm việc thiện là nối tiếp việc thiện. Được ơn đức với dân đã dày, mà việc che chở cho dân lại có nơi tuy chưa lớn rộng. Gặp khi gió mưa nóng lạnh, trước đây dân chỉ biết kêu ca. Nay cầu được dựng lên trên dưới 10 gian. Nay cầu được lợp mái thì không còn sợ gió mưa mục nát. Việc đó có thể so sánh với việc làm hoàn thành công tạo hóa mà công đức với dân to lớn biết nhường nào. Nhưng làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành. Nay lấy việc thiện làm nơi ở. Thôn An Đổ dựng lên cầu Diên Thọ, nền phúc đức dựng nên từ đó, có cầu mong điều gì khác đâu. Vậy có bài minh rằng:

Phép trời che khắp
Đất dày bao dung
Nay dựng cầu này
Muôn đời nhớ ơn
Đất không biên giới
Trời cao sánh cùng
Móng nền công đức
Xưa nay trường tồn
Ngày 15 tháng 8 năm Sùng Khang 3 (1568)

Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh khoa ất Mùi, tước Trình Quốc công, đã về hưu, người Trung Am, Vĩnh Lại là Nguyễn Bỉnh Khiêm hiệu Hanh Phủ soạn văn bia. Thợ khắc đá người xã Trường Kinh, huyện Cẩm Giàng là Bùi Phú Xuân khắc bia.

BÀI VĂN BIA THỨ HAI

Bia về việc chùa Khang Ninh, xã An Ninh tu tạo hai pho tượng Phật bằng đá: Chùa Khang Ninh, xã An Ninh, huyện Phụ Dực là nơi đất cổ linh thiêng, điện Phật trang nghiêm, được mọi người ngưỡng mộ. Khi có việc cầu đảo không gì không linh ứng. Nay các thiện sĩ trong xã là Đào Phúc Hoan, Đào Văn Thuần, v.v... cùng các vị tín thí huyện khác cùng nhau quyên góp tiền của tu tạo tượng Phật. Khi tượng đã hoàn thành đến xin tôi bài văn để khắc lại sự việc. Tôi cũng có lòng yêu điều thiện nên rất mừng. Những nhà Nho ta đối với giáo lý nhà Phật, tuy không nắm rõ nhưng đối với chỗ còn nghi ngờ thường động tâm bàn bạc những điều mà người xưa chưa trước tải giải thích, thường thuật lại những việc từ xưa nay chưa ai làm. Nay thực rất muốn khuyến khích để mọi người đều hưởng phúc lộc đến vô cùng. Ta thường tự nhủ cần phải tích lũy công đức. Bởi vậy viết bài văn này, khắc vào đá để lưu truyền mãi mãi. Có bài minh rằng:

Khắc đá dựng bia
Ngợi ca công đức
Việc xưa chưa làm
Nay nên khuôn phép
Ta chép việc này
Người đều hưởng phúc.
Ngày lành 18 tháng 11 năm Diên Thành 2 (1579).

Tiến sĩ cập đệ khoa ất Mùi, tước Trình Quốc Công, người Trung Am, Vĩnh Lại, hiệu là Độn Tẩu, lại có hiệu là Hanh Phủ Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn.

N.H.T

TB

GIỚI THIỆU KHO SÁCH ĐỊA BẠ
THƯ VIỆN VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG

Kho sách địa bạ hiện lưu trữ tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm là kho tư liệu do Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp (EFFO) cho sao chép cùng với các loại tư liệu khác như thần tích, tục lệ, thần sắc, xã chí, cổ chỉ(1).

Kho tư liệu địa bạ hiện có 526 sách. Ghi địa bạ của 767 xã 71 huyện, phủ, châu của 20 tỉnh phía Bắc, từ Nghệ An trở ra (xem bảng thống kê cuối bài viết).

Các sách địa bạ được đăng ký ký hiệu AG (là ký hiệu chung của sách tục lệ), ký hiệu chữ a, b thường kèm theo các chữ số tự nhiên để biểu thị địa danh của tỉnh. Ví dụ như AG a1 là địa bạ tỉnh Hà Tây. AG a14 là địa bạ tỉnh Hà Nội. AG b2 là địa bạ tỉnh Thanh Hóa... Ký hiệu chữ số từ 1, 2, 3... là thứ tự các sách đã được xếp ABC tên địa danh từng huyện trong tỉnh.

Ví dụ: AG a16/1 là địa bạ huyện Đồng Hỷ; AG a16/2 là địa bạ huyện Phổ Yên đều thuộc tỉnh Thái Nguyên.

Hầu hết sách địa bạ ký hiệu AG đều được khai vào năm Gia Long 4 (1805). Địa bạ được kê khai theo đơn vị địa danh của 767 xã, đều theo một công thức chung. Đầu tiên là ghi họ tên của những người kê khai gồm sắc mục, xã trưởng, thôn trưởng... cùng toàn xã (ghi rõ địa danh xã, tổng, huyện, phủ, tỉnh). Kê khai số ruộng công tư của xã, trong đó chú rõ từng loại. Mỗi loại ghi rõ số lượng, diện tích vị trí loại ruộng (loại 1, 2, 3). Trong từng loại lại ghi rõ từng thửa đất với số lượng và vị trí khác nhau.

Ví dụ: địa bạ xã Đạo Tú, tổng Đạo Tú, huyện Sơn Minh, phủ Phụng Thiên, xứ Sơn Nam Thượng ghi rõ: Số ruộng đất công tư của bản xã gồm 735 mẫu 1 sào 7 thước 6 tấc (được khai chi tiết tới từng phân). Phía Đông, Tây, Nam, Bắc giáp các xã nào, huyện nào. Trong tổng số ruộng của xã thì:

+ Công điền: 27 mẫu 1 sào 14 thước 8 tấc trong đó ruộng loại 1, loại 2, loại 3 là bao nhiêu... Số ruộng công được phân bổ ở 4 xứ: xứ Địa Liên, xứ Bà Ngang... vị trí của từng xứ tiếp giáp chỗ nào; trong mỗi xứ ruộng có bao nhiêu thửa ruộng, từng thửa đều có số lượng và vị trí cụ thể.

+ Tư điền: 586 mẫu 8 sào 4 thước 6 tấc

+ Tự điền (ruộng chùa): 8 mẫu, 8 sào, 4 thước 8 tấc.

+ Viên trì thổ trạch: 112 mẫu 2 sào 13 thước 1 tấc.

+ Bãi tha ma: 12 mẫu.

Cuối bản khai của từng xã đều có lời cam kết với nội dung: bản khai gồm bao nhiêu tờ và đã khai tường tận tỉ mỉ đúng như trong địa bạ. Nếu khai gian dối không đúng sự thực, đất công khai là đất tư, điền thành thổ, đất thực canh ghi là hoang phế, đất hạ điền thành thu điền... hoặc gian lận điền thổ từ 1 thước trở lên, sau mà về khám xét hoặc có người tố cáo ra thì bản xã từ sắc mục tên là... đến thôn trưởng tên là... cùng toàn xã sẽ chịu mọi hình phạt không thể chối cãi.

Cuối cùng là ngày tháng năm khai, và đóng dấu triện vuông. Cùng với phần điểm chỉ và họ tên của các chức sắc trong xã gồm sắc mục, xã trưởng, khán thủ, thôn trưởng... ghi họ tên người chép địa bạ. Ghi tên họ những người đối chiếu so sánh (các quan của Bộ Hộ).

Cách kê khai như trên được thống nhất trong tất cả các địa phương. Mọi nơi đều khai rõ ràng chính xác, tỉ mỉ. Đó thực sự là phương pháp quản lý ruộng đất chặt chẽ mà từ xưa đã được chú ý.

Dưới đây xin nêu một số nhận xét qua các tư liệu địa bạ.

1/ Ruộng canh tác gồm công điền và tư điền.

a) Số công điền là rất ít so với tư điền, nhiều xã hoàn toàn không có ruộng công . Thí dụ:

- Xã Cẩm Bào (Bắc Giang) không có công điền, tư điền là 524 mẫu / 619 mẫu.

- Xã Lỗ Hạnh (Bắc Giang) không có công điền, tư điền 724 mẫu / 982 mẫu.

- Xã Yên Sơn (Bắc Giang) không có công điền, tư điền là 1038 mẫu / 1856 mẫu.

- Xã Mậu Hòa (Bắc Ninh) chỉ có 1 sào công điền, 183 mẫu tư điền / 376 mẫu.

- Xã Quế Dương (Hà Đông) có 2 mẫu công điền, 359 mẫu tư điền / 910 mẫu.

- Xã Hoàng Xá (Hà Đông), có 5 mẫu công điền, 673 mẫu tư điền / 754 mẫu.

b) Ngược lại một số địa phương khác thì số công điền lại rất nhiều mà số tư điền lại rất ít. Thí dụ:

- Xã Sa Đê (Nam Định), có 2 mẫu tư điền, 385 mẫu công điền / 653 mẫu.

- Xã Quỹ Đê (Nam Định), không có tư điền, công điền là 1410 mẫu/1817 mẫu.

- Xã Cát Chử (Nam Định), tư điền 159 mẫu, công điền 2115/ 2454 mẫu.

Tình hình này đặc biệt có nhiều ở một số xã thuộc huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định.

2/ Tình hình đất bỏ hoang hóa ở một số nơi là rất lớn. Thí dụ như:

- Xã Kim Khê (Nghệ An), có 1375 mẫu công điền / 2750 mẫu (50%) bị bỏ hoang, có 952 mẫu tư thổ / 983 mẫu bị bỏ hoang.

- Xã Kỳ Phúc (Nghệ An), có 546 mẫu / 579 mẫu tư thổ bị bỏ hoang.

- Xã Hoàng Cần (Nghệ An), có 252 mẫu / 565 mẫu tư điền bị bỏ hoang.

* Các xã thuộc tỉnh Nghệ An thường có đất bị bỏ hoang nhiều. Các nơi khác thường không có đất bị bỏ hoang hoặc nếu có thì rất ít. Vùng Nghệ An là nơi đất rộng, người thưa, thời tiết khắc nghiệt, nên đất bỏ hoang nhiều.

3/ Ngoài số ruộng công, ruộng tư còn quỹ đất dùng vào các việc khác tất cả đều được thống kê chi tiết từng mẫu từng sào...

+ Đất thổ trạch cư dân (đất ở của dân) gồm đất hồ, ao, vườn.

+ Đất Thần từ, Phật tự, (đất đền thờ Thần, đất chùa thờ Phật), ruộng tam bảo, ruộng hậu.

+ Các loại đất của quan gồm: quan thổ, quan pha, quan đê, quan trì, quan châu thổ.

+ Các loại đất sử dụng cho các công trình công cộng như: khe lạch, thiên lý lộ, trường học, cống ngòi, giếng, đất chợ, đất bãi tha ma, kênh mương, đường cái, đất bãi bồi, bãi cát trắng...

4/ Ngoài việc kê khai chi tiết về tình hình đất ruộng. Các sách địa bạ còn bao gồm một số văn bản khác như đơn từ, tờ bẩm trình, tờ khải, các tờ khai, biên bản biên nhận, giao ước, xác nhận, bản đồ... Một vài xã còn chép văn bia và thần tích của xã. Chẳng hạn như:

- Bẩm trình ghi trong địa bạ với nội dung trình việc trưng tập đất châu thổ mới bồi, xin đóng mốc giới cọc tiêu. Trình việc đê điều bị vỡ, bị lũ tràn, xin xét trợ cấp. Trình xin miễn giảm thuế, xin đo đạc phân chia gianh giới đất phù sa. Trình về việc phân chia trách nhiệm làm cầu chung của 2 xã. Bẩm xin miễn tạp dịch.

- Kê khai các hạng dân đinh của xã ghi tổng số người theo các hạng: xã trưởng, tráng hạng, lính hạng, tật hạng. Kê khai địa phận của xã. Khai về việc thu thuế, về tình hình ruộng đất, khai số ruộng mới khai khẩn.

- Biên bản về việc đo đạc đất mới sụt lở để miễn thuế, đất mới bồi để đóng thuế. Biên nhận về việc nạp thuế là thóc hoặc tiền. Bản xác nhận địa giới của xã, có chứng thực của các xã lân cận.

+ Bản đồ địa giới của một số xã, bản đồ đất bãi mới bồi thêm, hoặc đất bị sạt lở...

+ Đơn xin phê chuẩn giang phận cho xã. Giao ước về tình hình phân gianh giới châu thổ ...

Địa bạ các tỉnh phía Bắc là một kho tư liệu quí, ghi lại tình hình địa giới, ruộng đất, dân cư của làng xã. Nguồn tư liệu giúp cho người đời sau hình dung được nhiều mặt về xã hội thời phong kiến. Cách ghi địa bạ tỉ mỉ, chi tiết, thận trọng chính là nguồn tư liệu đáng tin cậy, thể hiện phương pháp và trình độ quản lý của xã hội lúc đó, thể hiện vai trò trách nhiệm của quan chức địa phương. Hẳn sẽ là bài học kinh nghiệm cho người sau.

Bảng thống kê

Địa danh Số xã Ký hiệu
I. Tỉnh Hà Đông
Huyện Đan Phượng
Huyện Sơn Lãng
Huyện Từ Liêm
Huyện Thanh Trì
Huyện Thượng Phúc
87
14
11
43
2
17
AG a1
AG a1/1 - 14
AG a1/15 - 25
AG a1/26 - 68
AG a1/69 - 70
AG a1/71 - 87
II. Tỉnh Hưng Yên
Huyện Văn Lâm
Huyện Yên Mỹ
27
3
24
AG a2
AG a2/1 - 3
AG a2/4 - 27
III. Tỉnh Sơn Tây
Huyện Bất Bạt
Huyện Phúc Thọ
Huyện Tam Nông
Xứ Hưng Hóa
Huyện Tiên Phong
Huyện Tòng Thiện
Huyện Thạch Thất
Huyện Yên Sơn
61
5
9
12
1
9
9
3
13
AG a3
AG a3/1 - 5
AG a3/6 - 14
AG a3/15 - 26
AG a3/27
AG a3/28 - 36
AG a3/37 - 45
AG a3/46 - 48
AG a3/49 - 61
IV. Tỉnh Ninh Bình
Huyện Gia Viễn
Huyện Kim Sơn
Huyện Yên Khánh
Huyện Yên Mô
47
23
2
7
15
AG a4
AG a4/1 - 23
AG a4/24 - 25
AG a4/26 - 32
AG a4/33 - 47
V. Tỉnh Bắc Ninh
Huyện Đông Ngàn
Huyện Tiên Du
10
6
4
AG a5
AG a5/1 - 6
AG a5/7 - 10
VI . Tỉnh Thái Bình
Huyện Đông Quan
Huyện Quỳnh Côi
Huyện Thanh Quan
Huyện Trực Định
36
9
7
12
8
AG a6
AG a6/1 - 9
AG a6/10 - 16
AG a6/17 - 28
AG a6/29 - 36
VII. Tỉnh Kiến An
Huyện An Lão
Huyện Nghi Dương
Huyện Tiên Lãng
Huyện Thủy Nguyên
21
3
4
10
4
AG a7
AG a7/1 - 3
AG a7/ 4 - 7
AG a7/ 8 - 17
AG a7/18 - 21
VIII. Tỉnh Hà Nam
Huyện Duy Tiên
Huyện Kim Bảng
Huyện Nam Xương
Huyện Thanh Liêm
33
14
7
11
1
AG a8
AG a8/1 - 14
AG a8/15 - 21
AG a8/22 - 32
AG a8/33
IX. Tỉnh Nam Định
Huyện Giao Thủy
Huyện Hải Hậu
Huyện Mỹ Lộc
Huyện Trực Ninh
Huyện Vụ Bản
27
1
2
8
6
10
AG a9
AG a9/1
AG a9/2 - 3
AG a9/4 - 11
AG a9/12 - 17
AG a9/18 - 27
X. Tỉnh Bắc Giang
Huyện Bảo Lộc
Huyện Hiệp Hòa
Huyện Phất Lộc
Huyện Phượng Nhãn
Huyện Việt Yên
Huyện Yên Dũng
26
1
10
4
4
4
3
AG a10
AG a10/1
AG a10/2 - 11
AG a10/12 - 15
AG a10/16 - 19
AG a10/20 - 23
AG a10/24 - 26
XI. Tỉnh Phú Thọ
Huyện Cẩm Khê
Huyện Hạ Hòa
Huyện Phù Ninh
Huyện Sơn Vi
Huyện Tam Nông
Huyện Thanh Ba
38
7
8
4
8
2
9
AG a11
AG a11/1 - 7
AG a11/8 - 15
AG a11/16 - 19
AG a11/20 - 27
AG a11/28 - 29
AG a11/30 - 38
XII. Tỉnh Hải Dương
Huyện Cẩm Giàng
Huyện Thanh Hà
Huyện Thanh Lâm
9
7
1
1
AG a12
AG a12/1 - 7
AG a12/8
AG a12/9
XIII. Tỉnh Lạng Sơn
Châu Lộc Bình
Châu Thoát Lãng
Châu Văn Uyên
5
2
1
2
AG a13
AG a13/1 - 2
AG a13/3
AG a13/4 - 5
XIV. Tỉnh Hà Nội
Huyện Quảng Đức
Huyện Thọ Xương
Huyện Vĩnh Thuận
12
1
9
2
AG a14
AG a14/1
AG a14/2 - 10
AG a14/11 - 12
XV. Tỉnh Phúc Yên
Huyện Đông Anh
Phủ Yên Lãng
14
4
10
AG a15
AG a15/1 - 4
AG a15/5 - 14
XVI. Tỉnh Thái Nguyên
Huyện Đồng Hỷ
Phủ Phổ Yên
Phủ Phú Bình
13
1
8
4
AG a16
AG a16/1
AG a16/2 - 9
AG a16/10 - 13
XVII. Tỉnh Quảng Yên
Huyện Yên Hưng
5
5
AG a17
AG a17/1 - 5
XVIII. Tỉnh Hải Phòng
Huyện Hải An
8
8
AG a18
AG a18/1 - 8
XIX. Tỉnh Nghệ An
Huyện Đông Thành
Huyện Châu Lộc
Huyện Hưng Nguyên
Huyện Nghi Lộc
30
1
2
14
13
AG b1
AG b1/1
AG b1/2 - 3
AG b1/4 - 17
AG b1/18 - 30
XX. Tỉnh Thanh Hóa
Huyện Đông Sơn
17
17
AG b2
AG b2/1 - 17

N.T.P

CHÚ THÍCH:

(1) Đã giới thiệu trên Tạp chí Hán Nôm kho sách Tục lệ (2/1989); Kho sách Thần tích (3/1996); Kho sách Cổ chỉ (1/1998).

TB

HỘI NGHỊ PHẢ HỌC - TRUNG TÂM
PHẢ HỌC VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Ngày 15 tháng 11 năm 2002, Trung tâm phả học thuộc Viện nghiên cứu Hán Nôm đã tổ chức Hội thảo khoa học về phả học, tại Viện Nghiên Nghiên cứu Hán Nôm.

Truyền thống viết và lưu truyền phả của người Việt Nam có từ rất lâu đời. Việc nghiên cứu phả là một vấn đề không mới đối với ngành Hán Nôm, nhưng từ trước đến nay ít người chú ý, hoặc có chăng cũng ở mức độ lẻ tẻ chưa có qui mô nhất định vì thế nên chưa khai thác hết giá trị của thể loại văn bản này. Chính vì vậy, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã thành lập Trung tâm Phả học nhằm đưa hướng nghiên cứu thể loại này phát triển toàn diện hơn. Đây là cuộc Hội thảo đầu tiên từ khi thành lập Trung tâm, nhưng đã thu hút được rất nhiều nhà khoa học quan tâm .

Mở đầu cuộc hội thảo, PGS. TS. Viện trưởng Trịnh Khắc Mạnh phát biểu nêu bật vai trò của phả học trong đời sống hiện nay, và nhấn mạnh sự cần thiết thành lập Trung tâm Phả học.

Tiếp theo PGS Trần Lê Sáng - Giám đốc Trung tâm phả học đọc tham luận đề dẫn định hướng công tác nghiên cứu phả của Trung tâm.

Cuộc Hội thảo có nhiều tham luận rất tâm huyết như: Những vấn đề bức xúc trong nghiên cứu các loại phả Hán Nôm của PGS. Trần Lê Sáng, Nghiên cứu và khai thác giá trị của gia phả - Kinh nghiệm phả điệp học Trung Quốc của PGS. Phan Văn Các, Việt Nam cổ tiền phả của GS. Hoàng Văn Khoán, Về hai bản gia phả của dòng họ Phan Huy ở Sài Sơn của TS. Nguyễn Ngọc Nhuận , Mấy nét về ca phả hay quá trình hình thành phát triển của ca hát dân tộc của Phạm Đức Duật, Một số vấn đề gia phả học nhìn từ góc độ văn học của Nguyễn Hữu Tưởng, Gia phả hiện lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, tình hình và triển vọng nghiên cứu của Nguyễn Thị Oanh, Gia phả với dân tộc học và bảo tàng dân tộc học của Nguyễn Anh Ngọc, Việc sử dụng chữ Nôm trong loại hình phả kí của TS. Hoàng Thị Ngọ, Gia phả và tư liệu gia phả ở Thư viện Viên Nghiên cứu Hán Nôm của Trần Thị Kim Anh, Bảo quản gia phả theo truyền thống và hiện đại của Vũ Hồng Thuật”…

Hội nghị cho rằng việc thành lập Trung tâm phả học là điều hết sức cần thiết, đồng thời cũng khẳng định đây là cuộc hội thảo đầu tiên, để đi đến những thành công tiếp theo.

Vương Thị Hường

TB

MỤC LỤC BÀI VIẾT VÀ TÁC GIẢ
TẠP CHÍ HÁN NÔM NĂM 2002

STT Tên bài Tác giả Số/năm
1 30 năm ngành Hán Nôm trong Khoa Văn học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG. Hà Nội. Hà Văn Đức 5/02
2 Bài minh khắc trên chuông chùa Thiên Phúc đời Lý (1109). Hoàng Văn Lâu 2/02
3 Bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi hay của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tạ Ngọc Liễn 4/02
4 Bàn về “vu” và “vu thuật” trong dân gian thời Lưỡng Hán. Mã Tân 3/02
5 Bàn về bản dịch sắc thần đình Tân Hưng trong sách Bạc Liêu xưa và nay. Trần Phước Thuận 2/02
6 Bản dịch Khóa hư lục của Cư sĩ Thiều Chửu. Phan Văn Các 4/02
7 Bản ngọc phả về bà vợ Lê Đại Hành đánh giặc Tống. Trần Bá Chí 2/02
8 Bậc thầy của những chuyện kỳ diệu sáng tạo từ đất Hải Dương. M. Tkachov 3/02
9 Bia đá, chuông đồng di sản văn hóa quý hiếm ở Thái Bình. Phạm Minh Đức 6/02
10 Bia thời Mạc ở chùa Phúc Giao (Thái Thụy, Thái Bình) bị đục niên đại. Đinh Khắc Thuân 6/02
11 Bình Ngô đại cáo: Một số vấn đề về văn bản. Nguyễn Đăng Na 4/02
12 Bình Ngô đại cáo : Vấn đề dịch giả và dịch bản. Nguyễn Đăng Na 5/02
13 Bước đầu tìm hiểu mảng sách Nôm Tày - Nùng trong kho thư tịch Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Trần Thu Hường 2/02
14 Bước đầu tìm hiểu tư duy tượng số trong Chu Dịch. Lê Văn Quán 5/02
15 Các thuật ngữ “chưởng”, “tri”, “kiêm”, “thự”, “hành”, “quyền” trong chức quan thời xưa. Đinh Khắc Thuân 5/02
16 Có thêm một văn bản sao chép thơ Nôm của Nguyễn Trãi. Nguyễn Tá Nhí 4/02
17 Chiết tự - một phương pháp học, nhớ chữ Hán độc đáo của người Việt. Nguyễn Thị Hường 5/02
18 Chữ Nôm tiếng Việt và chữ Hán dùng để mô phỏng âm trong tiếng Phạn. Ishi Kiminari 6/02
19 Chữ Nôm trên đường hội nhập với khu vực và thế giới. Nguyễn Quang Hồng 5/02
20 Chức quan của Nguyễn Trãi và vị thế của ông trong triều đình nhà Lê. Đinh Khắc Thuân 4/02
21 Cuộc đấu tranh ngoại giao với triều đình nhà Minh đầu thế kỷ XV và những chứng tích còn lại. Nguyễn Văn Nguyên 4/02
22 Cụm văn bia chùa Đại Bi (Đông Hưng, Thái Bình). Mai Hồng 6/02
23 Đến Hàn Sơn tự tìm hiểu bài thơ Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế. Nguyễn Quảng Tuân 1/02
24 Đi tìm xuất xứ một bài thơ. Đỗ Phương Lâm 4/02
25 Đọc lời bạt bản dịch Nga văn Truyền kỳ mạn lục. Nguyễn Nam 3/02
26 Đọc sách: Phạm Thận Duật toàn tập. Đinh Xuân Lâm 5/02
27 Đôi nét trao đổi về dịch thơ chữ Hán - Nguyễn Trãi. Duy Phi 4/02
28 Đồng Khánh địa dư chí quá trình biên soạn - lưu truyền và giá trị học thuật. Ngô Đức Thọ 1/02
29 Giới thiệu ấn Quan phòng ở Bảo tàng Long An. Vương Thu Hồng 2/02
30 Giới thiệu kho sách Địa bạ Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Nguyễn Thị Phượng 6/02
31 Hai tấm bia Trạng Trình soạn mới phát hiện. Nguyễn Hữu Tưởng 6/02
32 Hậu duệ của Lê Lai trên đất Thăng Long. Lê Hoàng Bảo Giáp 2/02
33 Hội nghị cộng tác viên Tạp chí Hán Nôm năm 2002 Trịnh Khắc Mạnh 1/02
34 Hội nghị Phả học - Trung tâm Phả học - Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Vương Thị Hường 6/02
35 Hội thảo khoa học về Cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha P.V 3/02
36 Lễ bảo vệ khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Hán Nôm Khoa Văn học, Trường Đại học KHXH & NV. thuộc Đại học Quốc gia (Hà Nội). Phạm Vân Dung 3/02
37 Một bài thơ hay của Thiên Nam Động Chủ bị bỏ quên Đinh Văn Minh 4/02
38 Một bước ngoặt trên con đường tìm hiểu Truyện Kiều (Nhân đọc Văn bản Truyện Kiều - Nghiên cứu và thảo luận của Đào Thái Tôn). Lê Thành Lân 3/02
39 Một số nhận xét về văn bia thôn Bách Cốc (Vụ Bản, Nam Định). Phan Đại Doãn 2/02
40 Một số vấn đề về việc giảng dạy kinh điển Nho gia cho ngành Hán Nôm bậc Đại học. Đinh Thanh Hiếu 5/02
41 Một thế hệ - Một chặng đường tiếp cận di sản Hán Nôm. Trịnh Khắc Mạnh 5/02
42 Mục lục bài viết và tác giả Tạp chí Hán Nôm năm 2002. Đào Phương Chi 6/02
43 Nên trả chữ canh ( ) về cho bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương. Ngô Gia Võ 3/02
44 Người vẽ bản đồ quần đảo Hoàng Sa thế kỷ XVII - Đỗ Bá Công Đạo với bản đồ Bãi cát vàng (Hoàng Sa). Trần Bá Chí 6/02
45 Nguyễn Du sinh năm nào ? Nguyễn Văn Hoàn 1/02
46 Nguyễn Dữ hay Nguyễn Tự ? Nguyễn Nam 2/02
47 Nguyễn Trãi ở nước ngoài: Một số công trình nghiên cứu và phiên dịch. Nguyễn Nam 4/02
48 Nguyễn Trãi với các thế hệ người Việt Nam. Trịnh Khắc Mạnh 4/02
49 Nguyễn Trãi với Chu Dịch. Lê Văn Quán 4/02
50 Những dòng thơ thiền chứa chan tình đời, tình nghĩa của Cư sĩ Thiều Chửu. Tảo Trang 6/02
51 Những tri thức cơ bản về thư pháp. Thế Anh 4/02
52 Phát hiện bút tích chữ Hán của Hoàng Kế Viêm ở động Ngọc Kiều (Thanh Hóa). Hồng Phi - Hương Nao 4/02
53 Phân giải điều ngộ nhận đáng tiếc về ngày sinh của Mạc Thiên Tích. Trương Minh Đạt 1/02
54 Quán Viên Tẩu. Phạm Đức Duật 6/02
55 Sao Khuê tỏa sáng. Nguyễn Hữu Oanh 4/02
56 Song ngữ Hán Nôm - loại hình đặc thù của di sản Hán Nôm. Lê Anh Tuấn 5/02
57 Sử liệu có liên quan đến việc tái biên hương ước ở Bắc bộ Việt Nam thời Lê. Shimao Minoru 2/02
58 Tại sao có tranh luận về Thành hoàng đình làng Khương Thượng. Nguyễn Thế Long 2/02
59 Thông báo Cuộc thi vẽ mẫu biểu trưng. TCHN. 3/02
60 Thành lập Trung tâm Phả học thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Vương Thị Hường 3/02
61 Tiếng Nhật và tiếng Việt trong khu vực văn hóa Hán Lã Minh Hằng 6/02
62 Tìm hiểu Lưu Khánh Đàm qua tư liệu Hán Nôm hiện có ở địa phương. Lâm Giang 6/02
63 Tìm hiểu về danh, tự, hiệu của người xưa. Trịnh Khắc Mạnh 3/02
64 Tinh thần dung hợp tư tưởng Phật - Lão - Nho trong văn học Phật giáo thời Lý - Trần. Nguyễn Công Lý 2/02
65 Triển lãm thư pháp Hán Nôm tại Pháp . Đinh Khắc Thuân 1/02
66 Truyền thuyết ả Lã nàng Đê nhìn từ góc độ ngữ âm lịch sử. Nguyễn Tá Nhí 1/02
67 Truyện Đồng tiền. Hoàng T. Mai Hương 1/02
68 Từ một số nhận xét của các nhà ngữ văn truyền thống về văn thể đến chương trình môn Hán văn Việt Nam. Phạm Văn Khoái 5/02
69 Văn bia chợ Bằng. Đỗ Bích Tuyển 4/02
70 Văn bia đề danh Tiến sĩ cấp huyện ở nước ta. Nguyễn Hữu Mùi 5/02
71 Văn bia đời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã. Phạm T. Thùy Vinh 5/02
72 Văn bia tỉnh Quảng Nam, nguồn tư liệu giúp hiểu lịch sử văn hóa quá khứ. Lâm Giang 1/02
73 Về bộ ba tác phẩm Truyện ngắn - Ký - Tiểu thuyết chương hồi. Lại Văn Hùng 3/02
74 Về thời điểm ra đời bài thơ Nam quốc sơn hà. Nguyễn Thị Oanh 1/02
75 Về văn bản sách Thái Bình phong vật chí. Nguyễn Thuý Nga 6/02
76 Việc khắc lại 12 bia Tiến sĩ ở Văn Miếu - Hà Nội. Nguyễn Thúy Nga 2/02
77 Việt Nam tiểu thuyết tùng san và vấn đề văn hiến học liên quan. Vương Tiểu Thuẫn 1/02
78 Ý nghĩa của Ca, Ngâm, Hành, Từ, Khúc trong nhan đề thơ cổ. Triều Nguyên 2/02

DANH MỤC TÁC GIẢ CÁC BÀI VIẾT NĂM 2002

STT Tên tác giả STT ở danh mục các bài viết
1 Thế Anh 51
2 Phan Văn Các 6
3 Đào Phương Chi 42
4 Trần Bá Chí 7, 44
5 Phan Đại Doãn 39
6 Phạm Đức Duật 54
7 Phạm Vân Dung 36
8 Trương Minh Đạt 53
9 Phạm Minh Đức 9
10 Hà Văn Đức 1
11 Lâm Giang 62, 72
12 Lê Hoàng Bảo Giáp 32
13 Lã Minh Hằng 61
14 Đinh Thanh Hiếu 40
15 Nguyễn Văn Hoàn 45
16 Mai Hồng 22
17 Nguyễn Quang Hồng 19
18 Vương Thu Hồng 29
19 Lại Văn Hùng 73
20 Hoàng Thị Mai Hương 67
21 Nguyễn Thị Hường 17
22 Trần Thu Hường 13
23 Vương Thị Hường 34
24 Phạm Văn Khoái 68
25 Ishi Kiminari 18
26 Đỗ Phương Lâm 24
27 Đinh Xuân Lâm 26
28 Lê Thành Lân 38
29 Hoàng Văn Lâu 2
30 Nguyễn Công Lý 64
31 Trịnh Khắc Mạnh 33, 41, 48, 63
32 Đinh Văn Minh 37
33 Nguyễn Hữu Mùi 70
34 Nguyễn Đăng Na 11, 12
35 Nguyễn Nam 25, 46, 47
36 Hương Nao 52
37 Nguyễn Thúy Nga 75, 76
38 Triều Nguyên 78
39 Nguyễn Văn Nguyên 21
40 Nguyễn Tá Nhí 16, 66
41 Nguyễn Hữu Oanh 55
42 Nguyễn Thị Oanh 74
43 P.V 35, 60
44 Duy Phi 27
45 Hồng Phi 52
46 Nguyễn Thị Phượng 30
47 Lê Văn Quán 14, 49
48 Shimao Minoru 57
49 Mã Tân 4
50 TCHN. 59
51 Ngô Đức Thọ 28
52 Đinh Khắc Thuân 10, 15, 20, 65
53 Trần Phước Thuận 5
54 Vương Tiểu Thuẫn 77
55 M. Tkachov 8
56 Tảo Trang 50
57 Nguyễn Quảng Tuân 23
58 Lê Anh Tuấn 56
59 Đỗ Bích Tuyển 69
60 Nguyễn Hữu Tưởng 31
61 Phạm Thị Thùy Vinh 71
62 Ngô Gia Võ 43